Viện đào tạo cán bộ

Switch to desktop Register Login

Shiretoko một di sản thiên nhiên được nhà nước Nhật Bản công nhận vào năm 2005. Đây được coi là vùng hoang dã nguyên sơ cuối cùng còn lại ở Nhật Bản. Shiretoko là một bán đảo dài và hẹp nằm ở phía đông bắc Hokkaido. Dãy núi Shiretoko có núi lửa chạy xuống trung tâm của bán đảo.

Các đỉnh núi cao nhất của dãy núi Shiretoko này là Rausu-dake (cao 1,661 m so với mực nước biển) và núi lửa Iouyama. Biển Okhotsk nằm ở phía tây của dãy Shiretoko và nằm ở phía đông eo biển Nemuro. Các vách đá bờ biển Okhotsk cao hơn 100 m. Bạn có thể nhìn thoáng qua rất nhiều thác nước lớn và nhỏ khi đứng trên bãi biển.

Cá hồi ở biển ngoài Shiretoko là một nguồn thực phẩm quan trọng hỗ trợ các hệ sinh thái trên cạn với các loài chim quý hiếm như Blakiston, chim cú, đại bàng biển Steller và đại bàng biển đuôi trắng, cũng như gấu nâu.

Ban-dao-Shiretoko-di-san-thien-nhien-the-gioi2
Động vật ở bán đảo Shiretoko

Hệ sinh thái Shiretoko là một ví dụ điển hình để ta thấy rõ về mối liên hệ giữa các hệ sinh thái biển và trên cạn. Đây được coi như là một nơi lý tưởng của động vật hoang dã quý hiếm có một không hai trên thế giới.

Bán đảo Shiretoko may mắn có núi, hồ và một sự phong phú của thực vật và động vật, cung cấp nhiều nơi quan tâm trong suốt mùa giải. Một ví dụ là Shiretoko Goko hoặc Ngũ Hồ Shiretoko nằm ​​trên một cao nguyên nham thạch bao quanh bởi rừng già. Năm hồ không có tên được gọi bằng số từ hồ số 1 đến hồ thứ 5.

Nếu bạn đi dạo dọc theo đường mòn đi bộ (mất khoảng 1 tiếng), bạn có thể nhìn thấy động vật hoang dã và chắc chắn sẽ thưởng thức vẻ đẹp của các mùa, đẹp nhất là mùa thu.

Ban-dao-Shiretoko-di-san-thien-nhien-the-gioi3
Hồ ở Shiretoko

Vào mùa thu, khi những ngọn núi được trang trí bằng màu đỏ và màu vàng của hoa, cá hồi tràn ngập lên sông đẻ trứng là một cảnh tượng đáng kinh ngạc và hấp dẫn. Vào mùa đông, đó cũng là cảnh quan đẹp như băng trôi thay đổi biển Okhotsk thành một bờ tuyết trắng. Có những tour du lịch Nhật Bản ngắm màn dưới bầu trời đầy sao rất tuyệt vời. Chuyến đi dạo ban ngày các bạn sẽ được nghe tiếng chim hót, thưởng thức thác nước và động vật hoang dã đi bộ dọc theo đường mòn. Các bạn muốn tham quan hãy liên hệ với Trung tâm Tự nhiên Shiretoko trước khi khởi hành.

Ban-dao-Shiretoko-di-san-thien-nhien-the-gioi4
Băng trôi ở Shiretoko


Học "đổ rác" ở Nhật Đến với Nhật Bản chắc chắn các bạn sẽ không bắt gặp những hình ảnh rác thải vứt đầy đường, vứt ở cột điện không đúng nơi quy định...Đơn giản, chỉ vì, đất nước hoa anh đào có những quy định về đổ rác và phân loại rác rất gắt gao.
do rac 1
Các bạn thực tập sinh đi xuất khẩu lao động Nhật Bản đều đã được học những bài học về phân loại rác. Hôm nay, hãy cùng xem các bạn được học những gì nhé.

Quy định đổ rác:

Phải đổ rác ra trong khoảng thời gian từ sáng sớm đến 8:30 sáng của ngày thu rác đã được quy định và phải bỏ ra nơi đã được quy định.

Người Nhật Bản mỗi buổi sáng thức dậy ra khỏi cửa đều một tay xách cặp một tay xách túi rác. Trước khi đến cơ quan, nhiệm vụ của người đàn ông trong nhà là vứt rác vào thùng rác cố định hoặc máy thu gom rác đặt ở tầng 1. Thế nên người Nhật Bản mới nói đùa với nhau rằng, "ông xã chính là một cái máy vứt rác".

Trong những ngày ở Nhật Bản, chúng tôi còn để ý thấy rằng, những thùng rác được đặt trên đường phố hoàn toàn không nhiều. Những người Nhật Bản mỗi khi ra khỏi nhà cũng đem rác bỏ vào trong chính túi rác mà họ mang theo bên mình. Vì vậy nếu bạn đến các trung tâm mua sắm xa hoa của Nhật và bắt gặp những cô gái trẻ đẹp cầm những túi đựng rác đi shopping thì bạn cũng đừng kinh ngạc.


Phân loại rác:

Rác trong gia đình được phân loại thành 6 loại như sau

(1) Rác đốt được:

[Loại rác]

Rác nhà bếp (các món nấu vụn, cơm thừa, vỏ trái cây, bã trà,vỏ trứng, rau thừa...), tàn thuốc lá, giấy vụn, đũa dùng một lần, tăm tre để xiên nướng, hộp giấy, cây cỏ, lá khô, bụi của máy hút bụi, hàng đồ da, gỗ vụn trong công việc làm tại nhà, băng vệ sinh, tã giấy...     

[Các điều cần lưu ý]

1. Khi bỏ rác, bỏ vào bao nhựa dẻo hoặc bao nhựa vinyl có bán bên ngoài... và buộc miệng bao lại trước khi bỏ rác.
2. Rác nhà bếp phải được vắt hết nước, dùng giấy báo... gói lại trước khi bỏ vào bao.
3. Gỗ vụn, cành cây trong vườn... phải được cắt ngắn cỡ 50cm, dùng dây cột bó lại trước khi bỏ ra.

do rac 2

(2) Rác không đốt được

[Loại rác]

Sản phẩm làm bằng nhựa cứng (chai chứa dầu gội đầu, hộp đựng bột giặt, bao được thức ăn, đồ chơi...) sản phẩm bằng nhựa dẻo, sản phẩm bằng nhựa vinyl, sản phẩm làm bằng nhựa ni lông, nhựa xốp, cao xu các loại (giày thể thao, giày ống cao, dép...), sản phẩm da nhân tạo, đồ gốm các loại, lưỡi dao cạo, bóng đèn điện, kính, lọ mỹ phẩm, thủy tinh pha lê, ô dù, ghế ngồi, bình thủy, lọ xịt, lon đựng sơn... 

[Các điều cần lưu ý]

a. Rác không đốt được phải cho vào bao nhựa dẻo hoặc bao nhựa vinyl trước khi bỏ ra.
b. Những thứ to lớn không thể bỏ vào bao tải được thì làm sao đừng rơi rớt đây đó.
c. Lọ bình xịt có thể gây nguy cơ nổ,cần phải cho xì ra hết khí bên tronng trước khi bỏ ra.
d. Khi bỏ vật nguy hiểm như lưỡi dao cạo... phải bọc trong giấy báo và ghi chữ “kiken=nguy hiểm”, xong cho vào bao nhựa vinyl trước khi bỏ ra.

do rac 3

(3) Rác tài nguyên

[Loại rác]

Giấy các loại (giấy báo, tờ rơi quảng cáo, giấy báo gói hàng, hộp đựng quần áo, hộp đựng giầy, hộp trống, thùng giấy carton...) quần áo (quần áo, vải vụn cũ ) lon rỗng (bia, rượu, nước giải khát, thức ăn đóng hộp, chai đựng sữa...), kính bể, chai, bộ đồ ăn (son, nồi, niêu, ấm nước, sắt vụn, xe đạp, gia cụ bằng sắt thép...), đồ điện gia dụng (tivi, máy giặt, tủ lạnh, dàn máy stereo, lò sưởi, bếp gas... một số rác loại này là thu có phí), mền nệm=Futon...      

[Các điều cần lưu ý]

a. Lon va chai cho vào bao nhựa dẻo hoặc bao nhựa vinyl trước khi bỏ ra.
b. Giấy các loại, quần áo các loại phải chia theo loại và buộc dây theo hình chữ thập, và giữ sao cho nó không bị mưa ướt khi bỏ ra.
c. Chai và lon phải rửa một lần trước khi bỏ ra.
d. Thuỷ tinh bể vỡ phải gói bằng giấy báo..., bỏ vào bao va ghi chữ “Garasu kiken=thủy tinh nguy hiểm” bên ngoài bao trước khi bỏ ra.

do rac 4

(4) Rác có hại

[Loại rác]

Pin, bóng đèn huỳnh quang, nhiệt kế.  

[Các điều cần lưu ý]

a. Cho vào bao nhựa dẻo hoặc bao nhựa vinyl trước khi bỏ ra.
b. Bên ngoài bao ghi rõ “Yugai gomi=rác có hại” trước khi bỏ ra.
c. Lưu ý để không bỏ lẫn với rác tài nguyên trước khi bỏ ra .
Pin có chứa chất thủy ngân hữu cơ độc hại, do đó hãy bỏ vào bao trong có thể nhìn thấy bên trong và tuân theo cách bỏ đã được quy định.

do rac 5

(5) Rác cồng kềnh

[Loại rác]

Gia cụ các loại (bàn gỗ,ghế gỗ, tủ đựng quần áo, bàn kính trang điểm, giường, thảm cao cấp các loại, thảm thường các loại, tấm đệm...), cửa các loại (cửa ra vào, cửa giấy kiểu Nhật ...)
(Chú ý) Rác lớn cồng kềnh là những đồ vật như nêu trên mà có kích cỡ khoảng trên 1m2  

[Các điều cần lưu ý]

a. Khi mua cửa các loại...thì hãy yêu cầu người bán hàng thu nhận đồ cũ.
b. Đồ gỗ có thể cắt ra thành từng tấm có mỗi cạnh dưới 50cm, bó lại và bỏ ra vào ngày rác đốt được.
c. Rác lớn cồng kềnh bỏ ra trước cửa nhà hoặc bỏ ra nơi mà xe (tấn) có thể vào được.
d. Bỏ rác theo chế độ xin bỏ rác bằng điện thoại. Tùy theo loại đồ vật, có trường hợp phải trả một khoản phí thủ tục thu hồi rác.

do rac 6
(6) Rác thu gom

[Loại rác]

Xe máy, chiếu tatami, lốp xe, dầu phế thải...

do rac 7

Một kinh nghiệm nhỏ cho các bạn tu nghiệp sinh : Nếu không có tiền sắm tủ lạnh, tivi....và những vật dụng cần thiết khác hãy ra...bãi rác. Đảm bảo các bạn làm hết 3 năm về nước đồ các bạn cũng chưa hỏng.

Những nắm cơm Onigiri tuy giản dị nhưng mang trong mình vẻ tinh hoa đẹp đẽ rất riêng của đất nước Mặt trời mọc này đấy!

Nếu bánh mì thịt tiện dụng ngon lành là đại diện tiêu biểu cho ẩm thực Việt Nam thì ở Nhật, những nắm cơm giản dị cũng mang trong mình cái tinh hoa đẹp đẽ nhất của nền ẩm thực xứ Phù Tang.

Món ăn trải dài lịch sử

Hiếm có món ăn nào lại gắn bó với những thăng trầm lịch sử của Nhật khi cơm nắm. Ngay từ thế kỉ thứ 11, sự xuất hiện của những nắm cơm hình tròn nhỏ nhắn và tinh tế đã được nhắc đến trong nhật kí của nữ sĩ tài hoa Murasaki Shikibu.

Món cơm nắm cũng theo chân các chiến sĩ Samurai đi dọc các chiến trường trên đất Nhật. Có nhiều ý kiến cho rằng, Onigiri còn xuất hiện trước cả thời kì Heian. Ngay từ thời đại khởi thủy Nara, khi người Nhật còn chưa biết sử dụng bát đũa, các nắm cơm đã được phát minh để tiện lợi cho việc cầm ăn. Có thể nói, những nắm Onigiri bé nhỏ đã "lăn mình" xuyên suốt lịch sử Nhật Bản, từ ngày đầu lập quốc cho tới thời đại Heian sáng chói về văn hóa, đến giai đoạn hùng tráng với sự phát triển của văn hóa võ sĩ đạo.

onigiri-1

Cho đến đời Minh Trị, Nhật Bản thật sự bước vào thời kì "thoát Á" và được Tây hóa, món cơm nắm truyền thống đã có sự biến đổi to lớn. Công nghệ sản xuất nori (rong biển) đã cho ra đời những tấm nori mỏng tang, đều nhau chằn chặn. Lúc này, người ta cũng bắt đầu kết hợp cơm nắm với rong biển cùng các loại nhân khác.

Onigiri ngày nay đã trở nên cầu kì và thơm ngon hơn phiên bản truyền thống rất nhiều, dù vẫn giữ nguyên hương vị đặc trưng của phần cơm trộn muối. Không một cửa hàng tiện lợi nào ở Nhật lại không bày bán Onigiri - đó là minh chứng cho ảnh hưởng sâu sắc của món ăn này đến với đời sống người Nhật.

onigiri-2

Ba cánh cửa bước vào thế giới Onigiri

Nếu bạn tìm kiếm công thức về cơm nắm Nhật Bản, ắt hẳn bạn sẽ bối rối vì... không có công thức nào giống nhau cả. Cũng như bánh mì thịt hay nem rán của Việt Nam, Onigiri cho phép người đầu bếp sáng tạo không biên giới. Nếu ví Onigiri là một vương quốc rộng lớn và phong phú thì ta có 3 cánh cửa để bước vào tìm hiểu vương quốc ấy. Với người Nhật, việc phân chia và chế biến các loại Onigiri được dựa trên 3 yếu tố sau:

Hình dáng

Với tư tưởng duy mĩ, người Nhật rất đề cao hình thức của món ăn. Do đó, các loại cơm nắm với hình dạng khác nhau cũng có thể tạo nên những trải nghiệm về mùi vị khác nhau. Phổ biến nhất ở Nhật là cơm nắm hình tam giác, ngoài ra còn có cơm nắm hình tròn như quả bóng, hình khối vuông góc cạnh và hình chữ nhật được ví như chiếc gối mềm (Tawara). Để tạo hình thật chuẩn cho cơm nắm không phải là điều dễ dàng, khi đầu bếp phải biết cân bằng độ ướt của cơm sao cho đủ cứng cáp để tạo hình, nhưng vẫn phải mềm mượt thơm ngon, không quá khô hay quá cứng.

onigiri-3

Cơm

Thành phần chính của cơm nắm dĩ nhiên là cơm, nhưng việc chế biến nguyên liệu tưởng chừng rất đơn giản này lại không đơn giản chút nào. Có rất nhiều kiểu cơm được dùng trong món Onigiri và sự đa dạng, tinh tế của chúng đôi khi vượt xa món sushi sang trọng. Người ta vẫn nhầm lẫn cơm trong Onigiri với cơm shari trong sushi. Nhưng không giống như shari có cả giấm và đường, cơm của Onigiri chỉ giản dị với một chút muối. Cơm trong Onigiri cũng tơi và khô hơn shari. Tuy nhiên, đó là kiểu cơm truyền thống. Onigiri ngày nay còn sử dụng cơm sekihan (cơm nấu với đậu đỏ) hoặc mazegohan (cơm nấu với các nguyên liệu khác nhau).

onigiri-4

Nhân

Đây có lẽ là phần hấp dẫn nhất trong một nắm Onigiri, làm nên sự đặc sắc và khác biệt cho mỗi nắm cơm của mỗi người. Tùy theo sở thích và điều kiện mà những người nội trợ Nhật Bản vẫn thường chế biến các loại cơm nắm với công thức nhân "độc quyền" của riêng mình. Hình ảnh từng tốp học sinh tiểu học trao đổi cơm nắm cho nhau trong những chuyện picnic không chỉ xuất hiện trên phim ảnh, đó đã trở thành thói quen thực sự trong đời sống xứ Phù Tang, khi mỗi nắm cơm đều là đại diện cho sự khéo léo, gu ẩm thực và cá tính riêng của mỗi hộ gia đình.

Loại nhân truyền thống và cơ bản nhất của Orinigi là mơ nuối (Umeboshi) và cá hồi khô (Okaka). Đây đều là hai nguyên liệu phổ biến, quen thuộc và được xem là cực kì bình dân với người Nhật. Chút mằn mặn từ vị mơ muối và thịt cá đã đủ nâng tầm cho nắm cơm đơn điệu, và dù xuất phát với tư cách là món ăn giản tiện của người nghèo, cơm nắm mơ muối cùng cá hồi khô vẫn rất được người Nhật ưa chuộng.

onigiri-5

Các loại nhân truyền thống thường gặp khác là hải sản như cá ngừ, cá hồi, tôm, cua biển, nhân tempura, nhân vị miso và rau củ muối. Tuy nhiên với ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Phương Tây, hiện nay có rất nhiều lạo Onigiri mang hơi hướm của ẩm thực Châu Âu, kết hợp với cái hồn tinh thúy xứ Phù Tang tạo nên một sự hòa trộn tuyệt vời thú vị, trong đó có thể kể đến Spam musubi với "phong cách Hawaii đậm nét", gồm thịt heo nguội đặt trên nắm cơm hình chữ nhật.

onigiri-6

Vốn được coi là quốc gia cầu kì hàng đầu về ẩm thực, nhưng cái tinh túy trong nghệ thuật nấu nướng của Nhật Bản không chỉ đến từ những khay sushi sang trọng hay món bò Kobe trứ danh đắt đỏ. Chỉ cần dạo qua vài cửa hàng tiện lợi, vài siêu thị về đêm hay dăm ba cửa hàng nhỏ bé khuất trong ga tàu điện, ta đã có thể khám phá không ít điều thú vị, đặc sắc của ẩm thực Nhật thông qua những khay Onigiri vô cùng giản dị.

Nguồn : kenh 14

Thông tin Thị trường Nhật Bản

Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21 tháng 9 năm 1973. Đến nay, hai nước đã xây dựng và không ngừng phát triển mối quan hệ hữu nghị và hợp tác rất gắn bó và toàn diện. Quan hệ hai nước đã đạt đến một đỉnh cao mới, trở thành “đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh Châu Á”.

A. CÁC THÔNG TIN CHUNG

1. Vị trí địa lý :

Nhật Bản là một đảo quốc ở Đông Bắc Á. Các đảo Nhật Bản là một phần của dải núi ngầm trải dài từ Đông Nam Á tới Alaska. Nhật Bản có bờ biển dài 37.000 km, gồm 4 đảo lớn theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Hokkaidou, Honshu, Shikoku, Kyushu và rất nhiều đảo nhỏ xung quanh. Đồi núi chiếm 73% diện tích tự nhiên cả nước, trong đó không ít núi là núi lửa. Ngọn núi cao nhất là núi Phú Sĩ (Fujisan) cao 3776 mét. Giữa các núi là các cao nguyên và bồn địa. Nhật Bản có nhiều thác nước, suối, sông và hồ. Đặc biệt, ở Nhật Bản có rất nhiều suối nước nóng, là nơi hàng triệu người Nhật thường tới để nghỉ ngơi và chữa bệnh.

2. Thủ đô, các thành phố lớn

Nhật Bản có 47 tỉnh và 12 thành phố, chia thành 9 vùng, bao gồm: Hokkaido, Tohoku, Kanto, Chubu, Kinki, Chugoku, Shikoku, Kyushu, và Okinawa. Thủ đô là Tokyo - cũng là trung tâm chính trị, kinh tế và thông tin của Nhật Bản.

3. Diện tích, dân số, cơ cấu dân số, tỷ lệ lao động và thất nghiệp

3.1. Diện tích:

Nhật Bản có diện tích khoảng 377.829 km², là một quốc gia nhỏ hẹp, chiều dài từ Bắc tới Nam khoảng 3.500km, do địa hình nhiều đồi núi nên Nhật Bản chỉ có rất ít đất có thể dùng để trồng trọt. Các cánh đồng được canh tác chiếm 12,3%, diện tích trồng cây ăn quả chiếm 1,1% và đất trồng cỏ chiếm 0,2% diện tích quốc gia. Ngược lại, đất rừng chiếm tỷ lệ lớn nhất, 66,5% trên tổng diện tích đất.

3.2. Dân số:

Năm 2012, Nhật Bản có khoảng 127,37 triệu dân, chiếm khoảng 1,81% dân số thế giới và đứng thứ 10 trong số các nước đông dân. Dân cư ở Nhật phân bố không đều, phần lớn tập trung ở các trung tâm lớn: Tokyo, Yokohama, Nagoya, Osaka, Kobe và Kyoto. Thủ đô Tokyo có 12,7 triệu người và mật độ dân số cao nhất nước khoảng 54.700 người/ km², trong khi ở Hokkaido - tỉnh thưa dân nhất có mật độ 74 người/ km². Dân số ở các thành phố và các thị trấn chiếm khoảng 4/5 dân số Nhật Bản, chỉ có khoảng 1/5 dân số còn lại sống ở vùng đồng bằng ven biển.

Dân số Nhật Bản đang già đi quá nhanh, tỷ lệ sinh thấp dẫn đến lực lượng lao động trong nước đang ngày càng thu hẹp, thiếu nhân lực ở độ tuổi lao động trầm trọng.

3.3. Tỉ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản

Bộ Lao động Nhật Bản vừa cho biết tỷ lệ thất nghiệp ở nước này trong tháng 5/2012 đã giảm xuống mức 4,4%, thấp hơn 0,2% so với tháng 4. Theo đó, số người thất nghiệp trong tháng 5/2012 là gần 3 triệu người, chiếm 3,3% lực lượng lao động Nhật Bản; số người có việc làm tăng lên gần 63 triệu người, tức cứ 100 người tìm việc thì 81 người có được việc làm, chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng tại vùng Đông Bắc.

Tỷ lệ thất nghiệp giảm chứng tỏ nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới đang hồi phục sau thảm họa động đất kéo theo sóng thần hồi tháng 3/2011.

4. Khí hậu và thời tiết:

Khí hậu Nhật Bản thay đổi rõ rệt theo 4 mùa Xuân – Hạ - Thu – Đông. Mùa Xuấn đến vào đầu tháng 3 được đánh dấu bằng đợt không khí lạnh. Vào cuối tháng 4 và tháng 5, vùng đồng bằng của Nhật Bản có thời tiết đẹp nhất trong năm, nhiệt độ trung bình 120C ở Sapporo, 18,40C ở Tokyo và 19,20C ở Osaka. Cuối mùa xuân, nhiệt độ và độ ẩm tăng lên và nó được nhận biết bởi những đám mây dày rộng chừng 300 – 400 km che phủ mặt trời và làm cho thời tiết bớt đi sự ngột ngạt. Mưa không liên tục nhưng có thể là rất to.

Mùa Hè, mưa thường từ phía Nam và phía Tây Nhật Bản vào đầu tháng 6 và tiến dần lên phía Bắc vào cuối tháng. Giữa mùa hè có những ngày nóng và đêm oi bức do đứng gió. Nhiệt độ trung bình tháng 8 ở Tokyo là 26,70C và 280C ở Osaka. Cuối tháng 8 gió mùa nóng ấm, lập lại những trận mưa đầu mùa hè, ở Sapporo, Sendai và Tokyo đều có mưa nhiều vào tháng 9 (mưa Shurin).

Vào mùa Thu, mưa Shurin tạo một mùa chuyển tiếp ngắn cuối thu vào đầu đến giữa tháng 10 tùy theo vĩ độ và kéo dài đến tháng 11, lúc bắt đầu mùa đông. Mùa thu tiết trời mát mẻ và rất dễ chịu.

Mùa đông đến với Nhật Bản từ đầu tháng 12 đến tháng 2. Hầu hết các vùng của Nhật Bản có tuyết rơi vào mùa đông. Gió mùa Đông Bắc thổi từ lục địa châu Á tới bị chặn bởi hệ thống núi đồi chạy dọc nước Nhật gây ra tuyết rơi nhiều từ Hokkaido đến trung tâm Honshu. Tỉnh Nigata là một trong những tỉnh có nhiều tuyết nhất thế giới với kỷ lục tuyết dày 8 mét. Nhiệt độ trung bình hàng tháng vào mùa đông ở Asahikawa là -8,50C và là thành phố giữ kỷ lục nhiệt độ thấp nhất ở Nhật -410C.

5. Ngôn ngữ

Tại Nhật Bản, có 12 ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Nhật Bản, một ngôn ngữ bản xứ không thuộc ngữ hệ Nhật Bản là tiếng Ainu và vài ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng Trung Quốc được người Nhật sử dụng.

6. Tôn giáo

Ở Nhật có hai tôn giáo chính là Thần đạo (Shinto) và Phật giáo. Thần đạo không có người sáng lập, cũng không có các loại kinh kệ riêng như kinh Thánh hay kinh Phật. Phật giáo bắt đầu từ Ấn Độ từ thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên. Một nhánh chính của Phật giáo, nhánh Mahayana hay gọi là Phật giáo Đại thừa đã du nhập vào Nhật Bản. Phật giáo được du nhập vào Nhật từ Trung Hoa và Triều Tiên vào thế kỷ thứ 6.

7. Đồng tiền, tỷ giá quy đổi VND[DTD1]

Yên là đơn vị tiền tệ của Nhật Bản, có ký hiệu là ¥, và có mã là JPY, do Ngân hàng Nhật Bản phát hành.

Tỷ giá quy đổi: 1 Yên ≈ 257 VND (theo thời điểm 21/06/2011)

nb3

8. Giao thông, phương tiện đi lại

Tại Nhật Bản, các phương tiện giao thông công cộng đi lại chủ yếu bằng tàu điện. Hệ thống giao thông ở Nhật rất phát triển, tại các thành phố lớn, chỉ cần đi bộ 5 ~ 15 phút sẽ đến được ga tàu gần nhất. Bên cạnh đó, ở một số vùng ngoại ô và nông thôn, người Nhật Bản sử dụng xe buýt (nếu không có xe hơi). Trong thành phố cũng sẽ có một số tuyến xe buýt nếu đi tàu không tiện lợi.

B. THÔNG TIN VỀ LAO ĐỘNG DI CƯ

I. Thị trường lao động Nhật Bản

* Tiêu chuẩn tuyển chọn:

- Đủ 18 tuổi trở lên; đáp ứng yêu cầu về sức khỏe

- Trình độ học vấn: Phổ thông trung học trở lên

* Ngành nghề: Tu nghiệp và thực tập tại các nhà máy dệt may, cơ khí, nhựa, chế biến thủy sản, thợ mộc, xây dựng, nông nghiệp...

* Thời hạn hợp đồng: tối đa không quá 3 năm.

* Thu nhập bình quân: khoảng từ 80.000 Yên – 100.000 Yên/tháng (tương đương khoảng 22.000.000 đồng – 28.000.000 đồng/tháng

II. Tình hình thực tập sinh Việt Nam đi tu nghiệp tại Nhật Bản

Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21 tháng 9 năm 1973. Đến nay, hai nước đã xây dựng và không ngừng phát triển mối quan hệ hữu nghị và hợp tác rất gắn bó và toàn diện. Quan hệ hai nước đã đạt đến một đỉnh cao mới, trở thành “đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh Châu Á”.

Nhật Bản là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba toàn cầu. Nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài của Nhật Bản rất lớn, mỗi năm tiếp nhận hơn 100.000 thực tập sinh nước ngoài, trong đó có khoảng 6.000 thực tập sinh Việt Nam. Nhật Bản được đánh giá là thị trường tiềm năng rất lớn cho thực tập sinh Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có gần 20.000 thực tập sinh đang làm việc tại Nhật Bản trong 63 nhóm ngành nghề khác nhau, là quốc gia có số lượng thực tập sinh lớn thứ hai trong tổng số 15 quốc gia phái cử, chỉ sau Trung Quốc, vượt lên trên Indonesia, Philippines và Thái Lan.

Nhìn chung, các thực tập sinh Việt Nam đều có công việc phù hợp, điều kiện làm việc tốt và thu nhập ổn định.

III. Các chương trình hợp tác đưa thực tập sinh Việt Nam sang Nhật Bản

1. Chương trình hợp tác với Tổ chức Hợp tác tu nghiệp quốc tế Nhật Bản (JITCO)

Việt Nam chính thức đưa thực tập sinh sang tu nghiệp tại Nhật Bản từ năm 1992 trong khuôn khổ bản ghi nhớ về “Chương trình phái cử và tiếp nhận thực tập sinh nước ngoài vào tu nghiệp tại Nhật Bản” đã được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ký với Tổ chức Hợp tác tu nghiệp quốc tế Nhật Bản (JITCO). Thông qua Chương trình này, Nhật Bản hỗ trợ đào tạo nghề nhằm giúp thanh niên Việt Nam nâng cao tay nghề, tiếp cận với các kỹ thuật tiên tiến và công nghệ hiện đại để khi trở về nước góp phần tích cực vào công cuộc phát triển đất nước.

Cho đến nay, có hơn 120 doanh nghiệp phái cử Việt Nam uy tín, đủ điều kiện được JITCO chấp thuận đưa thực tập sinh sang tu nghiệp tại Nhật Bản. Hiện, thực tập sinh Việt Nam đang tu nghiệp tại Nhật Bản trong các lĩnh vực như điện tử, gia công cơ khí, may công nghiệp, chế biến thủy sản, xây dựng, nông nghiệp, đóng tàu biển… tại hầu khắp các tỉnh của Nhật Bản nhưng tập trung chủ yếu ở các vùng Gifu, Konto, Kansai, Aichi, Hiroshima…

Theo số liệu thống kê của Tổ chức JITCO, số lượng thực tập sinh Việt Nam sang thực tập tại Nhật Bản ngày càng tăng.

2. Chương trình hợp tác với Cơ quan phát triển nguồn nhân lực Nhật Bản (IM JAPAN)

Trong lĩnh vực phái cử thực tập sinh, bên cạnh quan hệ hợp tác với JITCO, từ cuối năm 2005, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ký Bản Thỏa thuận với Cơ quan phát triển nguồn nhân lực quốc tế Nhật Bản (IM JAPAN). Thực tập sinh đi tu nghiệp tại Nhật Bản theo chương trình này hầu như không phải đóng các chi phí trước khi xuất cảnh, ngoại trừ các khoản chi phí khám sức khoẻ, lệ phí làm hộ chiếu và visa, chi phí ăn, ở trong thời gian đào tạo trước phái cử. Sau khi hoàn thành thời gian tu nghiệp và thực tập kỹ thuật về nước, tổ chức IM JAPAN sẽ hỗ trợ mỗi thực tập sinh khoản tiền 600.000 Yên (khoảng trên 7.500 USD) để hỗ trợ việc hoà nhập, tìm việc làm mới hoặc tự tạo việc làm cho bản thân. Đối với những thực tập sinh có nguyện vọng làm việc trong các công ty Nhật Bản tại Việt Nam, tổ chức IM Japan sẽ phối hợp cùng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội liên hệ với các công ty để hỗ trợ việc làm.

Đây là chương trình phù hợp với tinh thần Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm hỗ trợ người lao động ở các huyện nghèo, vùng sâu vùng xa đi làm việc ở nước ngoài. Cơ quan trực tiếp thực hiện chương trình này tại Việt Nam là Trung tâm lao động ngoài nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội).

3. Một số chương trình khác:

Bên cạnh việc hợp tác đưa thực tập sinh và thực tập kỹ năng sang tu nghiệp và thực tập kỹ thuật tại Nhật Bản, Việt Nam cũng đã cung cấp lao động kỹ thuật có tay nghề cao, kỹ sư công nghệ thông tin, những người có trình độ đại học và trên đại học trong các lĩnh vực cho Nhật Bản. Hiện nay, thời gian làm việc của kỹ sư, chuyên gia Việt Nam tại Nhật Bản là ba năm và có thể gia hạn thêm hai năm, mức lương bình quân khoảng 250.000 yên/tháng (khoảng 3.000 USD), được cung cấp nhà ở, điện nước và các tiện nghi sinh hoạt như bếp gas, tủ lạnh, lò sưởi… Mức thu nhập cao cùng môi trường, điều kiện làm việc tiên tiến tại Nhật Bản là yếu tố hấp dẫn đối với các tân kỹ sư. Tuy nhiên, so với chương trình thực tập sinh, việc tuyển kỹ sư và chuyên gia cũng khó khăn hơn, yêu cầu đào tạo tiếng Nhật dài hơn nhưng hiệu quả cao gấp nhiều lần, chất lượng lao động được đảm bảo và ít phát sinh trong quá trình làm việc.

Ngoài ra, từ năm 2012, trong khuôn khổ Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA), hai Bên đã thống nhất triển khai Chương trình đưa ứng viên điều dưỡng, hộ lý sang làm việc tại Nhật Bản. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được Thủ tướng Chính phủ giao là đơn vị đầu mối thực hiện Chương trình này. Việt Nam là nước thứ ba, sau Phillipines và Indonesia, chính thức có thỏa thuận hợp tác đưa ứng viên điều dưỡng và hộ lý sang làm việc và học tập tại Nhật Bản - quốc gia phát triển hàng đầu thế giới về dịch vụ y tế. Đây là cơ hội tuyệt vời cho các điều dưỡng viên, hộ lý Việt Nam sẽ được huấn luyện trong môi trường làm việc chuyên nghiệp, nâng cao trình độ của bản thân trong thời gian làm việc tại Nhật Bản cũng như có thể sử dụng những kiến thức, kinh nghiệm hữu ích học tập được khi trở về làm việc trong nước.

IV. Một số quy định của Luật Quản lý xuất nhập cảnh liên quan đến tiếp nhận thực tập sinh:

1. Tư cách lưu trú:

Luật Quản lý xuất nhập cảnh Nhật Bản quy định người nước ngòai muốn nhập cảnh vào Nhật Bản phải kê khai hồ sơ xin tư cách lưu trú. Tùy theo thân phận, địa vị và mục đích nhập cảnh, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh xem xét để cấp cho tư cách lưu trú. Sau khi có được tư cách lưu trú, người nước ngòai có nguyện vọng nhập cảnh Nhật Bản sẽ tới cơ quan đại diện ngoại giao của Nhật Bản ở nước sở tại để xin visa nhập cảnh. Khi tới Nhật Bản, người nước ngoài chỉ được phép tiến hành các hoạt động theo đúng mục đích đã được quy định ở tư cách lưu trú do phía Nhật Bản cấp.

Đối với thực tập sinh tư cách lưu trú là “Thực tập sinh kỹ năng”. Như vậy, thực tập sinh chỉ được phép tiến hành các hoạt động của một thực tập sinh kỹ năng. Trong trường hợp thực tập sinh bỏ khỏi nơi thực tập để đi làm việc ở các nhà hàng hoặc nhà máy khác… sẽ là vi phạm quy định về tư cách lưu trú và sẽ bị trục xuất khỏi Nhật Bản. Tư cách lưu trú của thực tập sinh sẽ được ghi trên thị thực nhập cảnh và dán vào hộ chiếu của từng thực tập sinh.

2. Thời gian lưu trú:

Nội dung thị thực nhập cảnh dán vào hộ chiếu của thực tập sinh sẽ thể hiện gồm:

Tư cách lưu trú;
Thời gian lưu trú;
Ngày được phép nhập cảnh;
Tên sân bay (địa phương) nơi cửa khẩu nhập cảnh;
Thời gian lưu trú là thời gian thực tập sinh sẽ được phép ở lại Nhật Bản để tiến hành các hoạt động thực tập kỹ năng. Thông thường Bộ Tư pháp Nhật Bản mà trực tiếp là cơ quan quản lý xuất nhập cảnh sẽ cấp tư cách lưu trú với thời hạn 6 tháng hoặc 1 năm cho thực tập sinh. Hết thời hạn lưu trú, cơ quan tiếp nhận phải làm thủ tục để xin gia hạn tư cách lưu trú với tổng thời gian lưu trú tối đa không quá 3 năm đối với thực tập sinh kỹ năng.

3. Thay đổi tư cách lưu trú:

Theo quy định của Luật Quản lý xuất nhập cảnh, người nước ngòai có tư cách lưu trú muốn thay đổi mục đích ở lại phải làm thủ tục xin Bộ trưởng Bộ Tư pháp (đại diện là Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh điạ phương) để thay đổi tư cách lưu trú cho phù hợp với mục đích ở lại

4. Gia hạn thời gian lưu trú:

Gia hạn thời gian lưu trú là các thủ tục khi một người nước ngoài ở Nhật Bản muốn tiếp tục các hoạt động mà tư cách lưu trú hiện tại của họ cho phép nhưng thời gian lưu trú đã chuẩn bị hết hạn.

5. Nhập cảnh lại Nhật Bản trong thời gian còn tư cách lưu trú:

Theo quy định, người nước ngòai lưu trú tại Nhật Bản được tự do rời khỏi nước Nhật bất kỳ lúc nào mà không cần qua bất cứ thủ tục đặc biệt nào. Thế nhưng, khi ra khỏi Nhật Bản, tư cách lưu trú và thời gian lưu trú tại Nhật Bản của người đó sẽ mất hiệu lực. Để quay trở lại Nhật Bản, người nước ngòai đó sẽ phải làm thủ tục xin thị thực nhập cảnh mới với nhiều thủ tục phức tạp và mất thời gian. Luật xuất nhập cảnh Nhật Bản cho phép người nước ngòai đang còn thời gian lưu trú tại Nhật Bản được làm thủ tục tái cảnh trước khi người đó xuất cảnh Nhật Bản. Những người đã hòan thành thủ tục tái nhập quốc sẽ được miễn thị thực khi nhập cảnh lại Nhật Bản và chỉ phải làm các thủ tục kiểm tra nhập cảnh đơn thuần.

V. Hướng dẫn về việc xin visa cho người Việt Nam

Để được nhập cảnh vào Nhật Bản làm việc hoặc thực tập kỹ năng, người lao động Việt Nam phải xin Visa lao động, cụ thể như sau:

Trường hợp ở Nhật quá 90 ngày hoặc làm những công việc với mục đích sinh lợi, đề nghị trước hết phải xin giấy chứng nhận đủ tư cách lưu trú ở Nhật Bản tại Cục quản lý xuất nhập cảnh địa phương Bộ tư pháp Nhật nơi gần nhất (Số điện thoại Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ tư pháp Nhật: 03-3580-4111).

(1) Hộ chiếu

(2) Tờ khai xin cấp Visa (01 tờ)

(3) 01 ảnh 4,5cm x 4,5cm

(4) Giấy chứng nhận đủ tư cách lưu trú tại Nhật

(5) Tài liệu xác nhận chính xác bản thân (01 bản)

+ Trường hợp đi lao động kỹ thuật, kỹ năng: Bản hợp đồng lao động, giấy thông báo tuyển dụng...

+ Trường hợp đi tu nghiệp: Giấy tiếp nhận tu nghiệp...

Ngoài những hồ sơ nêu trên, tùy trường hợp có thể Đại Sứ Quán hoặc Bộ Ngoại Giao sẽ yêu cầu xuất trình thêm giấy tờ khác. Xin lưu ý, trường hợp không xuất trình thêm những giấy tờ được yêu cầu có thể sẽ không được tiếp nhận hồ sơ Visa hoặc chậm cấp Visa.

Tháng 5 là mùa các loài hoa nở rộ trên khắp đất nước Nhật Bản, khi đặt chân đến Nhật, chắc chẳn bạn sẽ ngạc nhiên bởi vẻ đẹp của các loài hoa, từ trên đường phố cho tới những những công viên.

Hoa Anh Đào.

Nhắc đến Nhật Bản là người ta nhớ ngay tới hoa anh đào.

Đây được coi là quốc hoa của Nhật Bản. Loài hoa này nở rộ vào tháng 5, chạy dài từ Bắc tới Nam. Hàng năm, rất nhiều khách du lịch đến với Nhật Bản chỉ để thỏa mãn ước mơ được ngắm hoa anh đào nở.

Hoa Anh Đào-1

 

Hoa tử đằng – tình yêu bất diệt

Hoa tử đằng-1

Hoa tử đằng-2

Thác hoa tử đằng.

Hoa Tử Đằng là loài hoa ở tượng trưng tình yêu bất diệt .Hoa thường nở vào đầu tháng 5 và được trồng nhiều nhất trong công viên Ashikaga ,các du khách rất hào hứng chụp ảnh , đứng dưới những tán hoa người xem có cảm giác đang đứng vào chốn bồng lai tiên cảnh.

Hoa Osaka ( Bọ cạp vàng )

Hoa Osaka-1

Loài hoa này thường có hai màu đỏ và vàng. Khi hoa nở, thường nở rộ, với hàng trăm nghìn bông hoa trên 1 thân cây, tạo cảm giác choáng ngợp thú vị cho những ai lần đầu tiên đến Nhật Bản.

Xanh Ngắt Hoa Thủy Tiên ( Nemophila )

Hoa Thủy Tiên-1

Hoa Thủy Tiên-2

Hoa thủy tiên loài hoa có màu xanh ,được trồng nhiều ở công viên Hitachi trên đảo Honshu.Hoa mọc trải dài trên các sườn đồi màu xanh mướt như trải dài tới tận chân trời.

Cánh đồng Hoa chi Anh , Hướng dương, Oải Hương…

Cánh đồng Hoa chi Anh  Hướng dương Oải Hương-1

Cánh đồng Hoa chi Anh  Hướng dương Oải Hương-2

Đây là loài hoa có màu tím và trắng thân chỉ cao từ 20-30 cm

Bản chất của những cánh đồng oải hương tại đây ban đầu chỉ để phục vụ cho mục đích thương mại, chưng cất lấy tinh dầu tạo nước hoa. Loài hoa vốn xuất xứ từ Địa Trung Hải với hương thơm mê hoặc và tính năng khử trùng tốt, có thể giúp chữa lành vết thương, xua đuổi côn trùng và là điềm lành may mắn này sau đó đã được những người dân Hokkaido trồng thành những luống lớn làm cảnh đẹp.

Nhật Bản là một đảo quốc, nằm trên biển Thái Bình Dương, phía đông của Đông Á.Quần đảo Nhật bản với trên 3.000 đảo được tạo thành từ các ngọn núi cao nổi lên từ một dãy núi nằm sâu dưới biển Thái Bình Dương, phía ngoài lục địa châu Á. Toàn bộ diện tích của Nhật Bản là 377.829 km2, bằng khoảng 1/26 diện tích Trung Quốc, tương đương với diện tích của Đức, Phần Lan hay Việt Nam.

hang cot
Nhật Bản – Đất nước mặt trời mọc

1. Điều kiện tự nhiên

Nhật Bản là một đảo quốc, nằm trên biển Thái Bình Dương, phía đông của Đông Á.Quần đảo Nhật bản với trên 3.000 đảo được tạo thành từ các ngọn núi cao nổi lên từ một dãy núi nằm sâu dưới biển Thái Bình Dương, phía ngoài lục địa châu Á. Toàn bộ diện tích của Nhật Bản là 377.829 km2, bằng khoảng 1/26 diện tích Trung Quốc, tương đương với diện tích của Đức, Phần Lan hay Việt Nam. Lãnh thổ bao gồm đảo Honshyu đảo lớn nhất, chiếm 61% diện tích lãnh thổ quốc gia, Hokkaido, kyushyu, shikoku hợp thành một quần đảo trung tâm, kéo dài xuống phía nam có các quần đảo izu, ogasawara, kéo dài về phía tây nam thì có quần đảo nansei và ở phía đông bắc thì có quần đảo Hokkaido, tất cả hợp thành một hình cánh cung trên biển. Khoảng 80% diện tích Nhật Bản là vùng núi trong khi các vùng bình nguyên thường nhỏ và hẹp. Các cánh đồng được canh tác chiếm 12,3%, diện tích đất trồng cây ăn quả chiếm 1,1% và đất trồng cỏ chiếm 0,2% diện tích quốc gia. Ngược lại, rừng bao phủ tới 66,5% tổng diện tích đất. Bao quanh đất nước là biển như: biển taihei, biển Nhật Bản, biển higashijina, biển Philipin, biển ohootsuku… Tiếp xúc với các biển các quốc gia như: Liên Bang Nga, Đại Hàn Dân Quốc, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Trung Hoa, Cộng Hòa Philipin, phía bắc của quần đảo Mariana của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ…

Khí hậu của Nhật Bản chịu ảnh hưởng lớn bởi tính chất địa lý, toàn bộ đảo Honshyu có khí hậu ôn đới, phía nam như đảo Okinawa có khí hậu cận nhiệt đới, phía bắc như Hokkaido thì mùa đông nhiệt độ dưới 0 độ C, tương đối lạnh. Vùng xung quanh thủ đô Tokyo, nơi mà các bạn đang dự tính đến làm việc, thì có 4 mùa. Mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 2) trời rất lạnh, thỉnh thoảng nhiệt độ xuống dưới 0oC, nhưng vào mùa hè (từ tháng 7 đến tháng 8) lại rất nóng, có những địa phương nhiệt độ lên trên 35oC. Thế nhưng, vào mùa xuân (từ tháng 3 đến tháng 6) hay mùa thu (từ tháng 9 đến tháng 10) thì lại dễ sống hơn với khí hậu ôn hòa.

2. Dân số và đặc tính con người

Dân số của đất nước Nhật hơn 128 triệu người đứng thứ 10 trên thế giới. Mật độ trung bình khoảng 343 người /km2.. Tập trung cao ở các thành thố lớn, riêng dân số ở thủ đô Tokyo và 3 tỉnh lân cận (kanagawa, Chiba, Saitama) tập trung khoảng 30% dân số, cộng dân số của các thành phố lớn như Oosaka, Kyoto, Nagoya thì sẽ chiếm khoảng một nửa dân số cả nước Nhật.

Một đặc điểm của người Nhật là mức độ thuần nhất cao của họ, nếu không kể thiểu số người Ainu hiện nay còn khoảng 18.000 người sống ở Hokkaido và Sakhalin thì tất cả người Nhật đều thuộc về cùng một chủng tộc và chỉ nói một ngôn ngữ. Một phần vì vậy mà tính cách của người Nhật Bản mang sắc thái khá rõ ràng và đồng nhất.

- Người Nhật nói chung hiếu kỳ và nhạy cảm với văn hóa nước ngoài. Chúng ta có thể nói rằng không có dân tộc nào nhạy bén về văn hoá của nước ngoài như người Nhật. Họ không ngừng theo dõi những biến động tình hình bên ngoài, đánh giá và cân nhắc những ảnh hưởng của các trào lưu và xu hướng chính đang diễn ra đối với Nhật, và nếu như họ phát hiện ra trào lưu nào đang thắng thế thì họ có xu hướng sẵn sàng học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó. Và chính tinh thần thực dụng, tính hiếu kỳ và óc cầu tiến của người Nhật là những động lực thúc đẩy họ bắt kịp với các nước tiên tiến. Họ không đặt vấn đề phê phán hay chọn lọc khi học mà bằng mọi cách học cho hết. Sau đó họ mới nghiền ngẫm tìm ra những yếu tố có thể cải biến. Đến đây họ lại phát huy được thế mạnh của óc quan sát tỉ mỉ và sự tinh tế vốn có của văn hoá dân tộc. Mặc dù rất nhạy cảm đối với văn hoá nước ngoài, song người Nhật rất ý thức về tài sản văn hoá của họ. Tư liệu lịch sử văn hoá, đền đài, chùa chiền… đại bộ phận vẫn còn được bảo tồn cho đến ngày nay. Hơn thế, các ngành nghề truyền thống không những không bị mai một đi mà còn được cải tiến kỹ thuật và càng trở nên tinh tế hơn.

- Người Nhật có ý thức tập thể: Tập thể đóng một vai trò quan trọng đối với người Nhật. Nó được thể hiện ngay từ trong cách xưng hô với người ngoài khi nói chuyện. Trong công việc người Nhật thường gạt cái tôi lại để đề cao cái chung, tìm sự hòa hợp giữa mình và những người xung quanh. Các tập thể có thể cạnh tranh với nhau rất gay gắt song cũng có lúc họ lại bắt tay với nhau để có thể đạt được mục đích chung như để đánh bại đối thủ nước ngoài. Vì vậy mà điều tối kỵ là làm mất danh dự của tập thể. Một học giả nước ngoài nghiên cứu về Nhật Bản đã đối lập “văn hóa hổ thẹn” của người Nhật với “văn hoá tội lỗi” của phương Tây.

- Người Nhật tôn trọng thứ bậc và địa vị: Ý thức tôn trọng thứ bậc có lẽ đã có từ lâu trong đời sống của người Nhật. Thái độ nhún mình trước những người có địa vị, quyền chức cũng có ở một số nước khác thời cận đại nhưng đặc biệt ở Nhật cho đến ngày nay vẫn còn đậm nét. Tập quán này được nhấn mạnh trong hơn 250 năm dưới thời Tokugawa. Ngày nay ý thức tôn trọng thứ bậc vẫn được thể hiện trong đời sống hàng ngày. Ví dụ trong phòng họp, người có chức vụ thấp nhất sẽ ngồi gần cửa ra vào, người có chức vụ càng cao thì càng ngồi gần phía bên trong. Hoặc trong các buổi tiệc tổ chức tại nhà hàng một cách đột xuất thì mọi người đều biết vị trí của mình mà không cần có sự hướng dẫn nào khác. Sắc thái tôn ti trật tự trong xã hội Nhật Bản thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ xưng hô và hình thức chào hỏi đối với từng đối tượng xã hội cụ thể. Đối với người lớn tuổi hay người có địa vị thì phải dùng ngôn ngữ kính trọng (sonkeigo), khi nói về mình và những người trong gia đình mình thì dùng ngôn ngữ khiêm nhường (kenjogo).

Chính từ cơ cấu này mà tinh thần đoàn kết và lòng trung thành của người Nhật được phát sinh, và nhờ đó mà việc động viên cho sự thực hiện mục tiêu của toàn thể tập đoàn là tương đối dễ dàng.

- Người Nhật có óc thẩm mỹ cao: Ấn tượng ban đầu của bất kỳ ai lần đầu đến thăm Nhật Bản là ngạc nhiên và thán phục về óc thẩm mỹ của người Nhật, từ cách trang trí nhà cửa sắp, xếp đồ đạc trong gia đình hay cách bài trí bữa cơm đều khiến cho mọi người có cảm giác tiếp cận một sự tinh tế, một óc thẩm mỹ cao. Nhưng óc thẩm mỹ của người Nhật không chỉ biểu hiện qua các hiện tượng bên ngoài mà còn qua lối suy nghĩ và cung cách làm việc của họ hàng ngày, hay nói rộng ra là nhân sinh quan của họ. Một người đan quạt tre ngắm đi ngắm lại xem cái quạt của mình làm đã cân đối chưa, có cần phải chau chuốt gì không, mặc dù khi làm như vậy thì anh ta sẽ mất nhiều thời gian hơn, đồng nghĩa với việc lợi nhuận thu về được ít hơn, song đối với người dân Nhật Bản ngoài mục đích lợi nhuận thì họ còn muốn đạt được một mục tiêu khác không kém phần quan trọng – đó là cảm giác thoải mái khi hoàn thành mỹ mãn một công việc dù là rất nhỏ. Họ luôn tìm kiếm cái đẹp trong công việc của mình, người Nhật nổi tiếng là người làm việc cần mẫn, xem công việc của công ty như là công việc của mình, luôn tận tâm tận sức, nhiều khi họ làm việc không phải vì lợi ích cá nhân của mình, họ xem công việc của họ không những là “hoạt động kinh tế” mà còn là “hoạt động thẩm mỹ”.

3. Nền kinh tế, khoa học, kỹ thuật

Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi sau những năm chiến tranh và phát triển cao độ khiến cho thế giới hết sức kinh ngạc. Người ta gọi đó là "Thần kì Nhật Bản". Hiện nay Nhật Bản là một nước có nền kinh tế lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ), GDP trên đầu người là 36.217 USD (1989). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Đơn vị tiền tệ là: đồng yên Nhật. Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông, viễn thông tất cả đều là ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản, Nhật Bản có năng lực rất lớn về công nghiệp, và đây là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ, trang thiết bị điện tử, công cụ máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa học, dệt may, thức ăn chế biến. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều mặt hàng thương mại trong lĩnh vực công nghệ và máy móc. Xây dựng từ lâu đã trở thành một trong những nền công nghiệp lớn nhất của Nhật Bản.

Nhật Bản cũng chính là trụ sở của ngân hàng lớn nhất thế giới, tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ (Mitsubishi UFJ Financial Group) với số vốn ước tính lên đến 1.7 nghìn tỉ đô la Mỹ. Nhật Bản cũng là nơi có thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế giới - thị trường chứng khoán Tokyo với khoảng 549.7 nghìn tỉ yên vào tháng 12/2006. Đây cũng là trụ sở của một số công ty dịch vụ tài chính, những tập đoàn kinh doanh và những ngân hàng lớn nhất thế giới. Ví dụ như những tập đoàn kinh doanh và công ty đa quốc gia như Sony, Sumitomo, Mitsubishi và Toyota sở hữu hàng tỉ và hàng nghìn tỉ đô la đang hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, nhóm các nhà đầu tư hoặc dịch vụ tài chính như ngân hàng Sumitomo, ngân hàng Fuji, ngân hàng Mitsubishi, các định chế tài chính của Toyota và Sony.

Giao thông ở Nhật Bản rất phát triển, vào năm 2004 ở Nhật Bản có khoảng 1.177.278 km (731.683 miles) đường bộ, 173 sân bay, 23.577 km (14.653 miles) đường sắt. Phương tiện đường không được hoạt động chủ yếu bởi All Nippon Airways (ANA) và Japan Airlines (JAL). Đường sắt được điều khiển bởi Japan Railways. Có rất nhiều các chuyến bay quốc tế lớn từ nhiều thành phố và đất nước trên thế giới đến và rời Nhật Bản.

Sẽ không quá lời khi nói Nhật Bản là một cường quốc khoa học – kỹ thuật. Trình độ khoa học – kỹ thuật của Nhật Bản, theo đánh giá tổng hợp của Bộ Giáo dục, Văn hoá, Thể thao, Khoa học và Kỹ thuật Nhật Bản chỉ thua kém Mỹ nhưng vượt Đức, Anh, Pháp. Sản phẩm công nghiệp dựa trên kỹ thuật cao của Nhật Bản có mặt trên khắp thế giới. Số lượng bằng phát minh sáng chế của các công ty Nhật Bản không ngừng tăng và không ít nhà khoa học Nhật Bản đã đoạt giải Nobel.

Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn bị coi là cường quốc khoa học – kỹ thuật “vô định” vì thiếu một chiến lược phát triển tổng thể. Những thành tựu khoa học – kỹ thuật chưa được tận dụng hiệu quả, mối gắn kết giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp yếu và việc chuyển giao tri thức, công nghệ chậm chạp. Nguyên nhân cản trở phát triển khoa học – kỹ thuật không chỉ dừng lại ở việc thiếu một chiến lược và chính sách linh hoạt với mục tiêu cụ thể, mà còn nằm ở phong cách quản lý khoa học không theo kịp với những thay đổi quốc tế. Người Nhật thường tránh cách đánh giá thẳng thừng mà coi trọng quan hệ trên dưới, quen biết, dẫn đến môi trường hạn chế những sáng tạo của các nhà khoa học trẻ. Cơ chế quản lý cứng nhắc dẫn đến nhân tài không được đánh giá đúng mức và làm xuất hiện hiện tượng chảy máu chất xám sang những nước có môi trường nghiên cứu ưu việt hơn, điển hình là Mỹ.

Việc thiếu quan tâm đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản cũng dẫn đến hậu quả là Nhật Bản không có được những phát minh khoa học lớn làm tiền đề cho những nghiên cứu trong tương lai. Việc tập trung vốn đầu tư vào nghiên cứu các lĩnh vực “ít rủi ro” đã làm cho Nhật Bản bỏ lỡ nhiều cơ hội đưa Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong những ngành khoa học mũi nhọn. Kết quả là Nhật Bản xếp hạng cao trong công nghệ vật liệu và năng lượng, đặc biệt trong công nghệ siêu nhỏ, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, nhưng lại tụt hậu trong công nghệ sinh học và công nghệ thông tin – những lĩnh vực hiện đang mang lại những thay đổi hết sức to lớn. Ngay cả trong những lĩnh vực Nhật Bản từng chiếm ưu thế như công nghệ siêu nhỏ, sức cạnh tranh của Nhật Bản cũng đã yếu đi rõ ràng sau nhiều năm không được đầu tư đúng mức.

Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã nhận thức rõ khoa học – kỹ thuật là yếu tố cơ bản tạo nên tính cạnh tranh quốc tế và là nền tảng để chuyển đổi sang xã hội tri thức. Chính phủ đã đề ra kế hoạch cơ bản phát triển khoa học – kỹ thuật với mục đích không chỉ đưa Nhật Bản trở thành quốc gia có tính cạnh tranh kinh tế cao và phát triển bền vững, mà còn là quốc gia có thể đóng góp cho thế giới thông qua sáng tạo và áp dụng tri thức.

4. Nền văn hóa đặc sắc:

Điều kiện tự nhiên đặc biệt cùng với sự sáng tạo cao độ đã giúp cho Nhật Bản có một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc nhưng cũng mang đậm tính quốc tế. Người Nhật rất thành công trong việc biến các giá trị văn hoá nước ngoài thành văn hoá của riêng mình. Hay nói cách khác các giá trị văn hoá nước ngoài đã được khéo léo Nhật Bản hoá. Có thể nói rằng bên cạnh thành công về kinh tế thì Nhật Bản cũng rất thành công trong lĩnh vực xây dựng cho riêng mình một nền văn hoá độc đáo.

Văn hoá Nhật Bản ngày nay là kết tinh thành quả lao động, đấu tranh với môi trường tự nhiên khắc nghiệt , đấu tranh với chính mình hàng ngàn năm của những cư dân trên quần đảo Nhật Bản. Nó cũng là sự kết hợp sáng tạo linh hoạt những giá trị văn hoá bản địa cùng với các giá trị văn hoá nước ngoài. Cũng vì vậy mà nó là nơi hội tụ của văn hoá phương Đông và phương Tây và là nơi thể hiện rõ nét Nhất sự sang tạo và thích nghi uyển chuyển với môi trường tự nhiên và xã hội của dân tộc Nhật!

Ngôn ngữ Nhật bao gồm bốn thứ chữ viết và hệ thống ngữ pháp không phức tạp nhưng lại phức tạp trong cách biểu hiện. Do đó, có thể nói là một trong những thứ tiếng khó nhất thế giới.Về nguồn gốc, khó xác định được chắc chắn nguồn gốc của ngôn ngữ Nhật Bản. Phần đông học giả lập luận rằng tiếng Nhật có quan hệ với tiếng Triều Tiên và các ngôn ngữ thuộc nhóm Altaic ở vùng Trung Á kéo đến phía tây Thổ Nhĩ Kỳ. Sự giống nhau trong cách cấu tạo các động từ cho thấy chúng có chung nguồn gốc. Nếu chỉ hạn chế trong phạm vi cú pháp thì tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên giống nhau như hai ngôn ngữ anh em. Nhưng về từ vựng thì người ta thấy có nhiều điểm khác nhau giữa hai ngôn ngữ này. Hệ thống phát âm cũng có những khác biệt: tiếng Triều Tiên cho phép tập hợp các phụ âm và tạo ra những khác biệt giữa một số âm nhất định. điều này không hề có trong tiếng Nhật.

Hiện nay nhiều ý kiến cho rằng tiếng Nhật có sự lai tạp (một thứ pha trộn phức tạp) giữa ngữ pháp và cú pháp của ngôn ngữ Altaic với từ vựng của ngôn ngữ châu Úc. Ngoài ra, một số học giả lại khẳng định rằng nó là một thành viên của họ Tây Tạng -Miến Điện hoặc Mã lai-Polynexia ở phương Nam. Nói một cách ngắn gọn, nguồn gốc của tiếng Nhật vẫn là một vấn đề đang được tranh cãi. Tuy thế, đa số học giả cho rằng tiếng Nhật có nguồn gốc từ tiếng Triều tiên.

Mặt khác, nhìn bề ngoài, nhiều người cho rằng tiếng Nhật "giống" tiếng Trung Quốc. Quả thật, tiếng Nhật có quan hệ chặt chẽ với tiếng Trung Quốc vì qua nhiều thế kỷ, tiếng Nhật đã mượn rất nhiều từ của tiếng Trung Quốc. Nhưng những từ vay mượn này đơn giản chỉ là sự giao lưu văn hoá còn về ngôn ngữ thì đây lại là hai thứ tiếng rất khác nhau.
Tiếng Trung Quốc là tiếng đơn âm (hay phần lớn là song âm tiết biệt lập) với trật tự Chủ ngữ - Động từ - Tân ngữ (SVO) trong khi tiếng Nhật lại là tiếng đa âm tiết với sự cấu thành từ ngữ quá phức tạp và một trật tự Chủ ngữ - Tân ngữ - Động từ (SOV). Sự khác biệt lớn này đã gây nhiều khó khăn khi người Nhật, vào thế kỷ VIII và IX, cố gắng biến chữ viết Trung Quốc thành chữ viết riêng của mình. Nếu cú pháp tiếng Nhật hướng người ta lên phía bắc và tây bắc lục địa châu Á thì những khía cạnh trong bảng từ vựng và hệ thống phát âm (đặc biệt tiếng Nhật có hệ thống âm tiết mở và cho phép lặp lại các từ đơn giản để tạo ra số nhiều) đã hướng người ta xuống phía nam, nơi có nhóm ngôn ngữ châu Úc hoặc nhóm ngôn ngữ Dravidian ở phía nam Ấn Độ.
Một nét nổi bật của tiếng Nhật là các hình thức biểu đạt theo cấp độ khác nhau tuỳ theo tình huống. Tiếng Nhật có cách nói thông thường, khiêm nhường hoặc kính trọng, tuỳ thuộc vào mức độ kính trọng cần thiết đối với người đối thoại, vào các dịp và các yếu tố khác. Động từ, danh từ và các từ khác thay đổi hoàn toàn hoặc một phần theo cấp độ được dùng. Kính ngữ vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong xã giao, cũng như sự khác nhau giữa từ ngữ và cách nói của nam và nữ. Điều này cũng phần nào thể hiện sự phân cấp thứ bậc traong xã hội Nhật Bản. Một đặc điểm cuối cùng nổi bật của tiếng Nhật là sự biểu hiện không rõ ràng. Có nhiều từ có thể hiểu theo hai nghĩa.

5. Nền chính trị:

Nhật Bản là một trong các nước theo hệ thống quân chủ lập hiến, trong đó Thủ tướng là người nắm quyền cao nhất về các phương diện quản lý quốc gia và chịu sự giám sát của hai viện quốc hội cùng tòa Hiến pháp có thẩm quyền ngăn chặn các quyết định vi hiến của chính phủ. Được xây dựng dựa trên hình mẫu của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và một số nước phương Tây khác sau này. Theo hệ thống pháp luật thế giới hiện hành, Nhật Bản được xếp vào các nước có nền dân chủ đầy đủ ưu việt nhất. Quốc hội Nhật Bản (国会 Kokkai) là cơ quan lập pháp cao cấp nhất, gồm có Hạ viện (衆議院 shugi-in, Chúng nghị viện) với 512 ghế và Thượng viện (参議院 sangi-in, Tham nghị viện) với 252 ghế. Hạ viện được bầu ra từ 130 đơn vị bầu cử với số nghị viên từ 2 tới 6 vị tùy theo dân số. Nhiệm kỳ của Thượng viện là 6 năm, mỗi 3 năm được bầu lại một nửa. 100 Thượng nghị sĩ được bầu theo sự đại diện tỉ lệ (proportional representation) tức là do các cử tri toàn quốc, số còn lại 152 ghế được bầu từ 47 đơn vị bầu cử tỉnh. Hạ viện có quyền bỏ phiếu tín nhiệm hay bất tín nhiệm Nội các, đây là một quyền lực chính trị quan trọng nhất của nền chính trị đại nghị. Các công dân Nhật Bản trên 25 tuổi đều có quyền ứng cử Dân biểu và trên 30 tuổi có thể tranh cử ghế Thượng viện. Quyền được thực hiện phổ thông đầu phiếu thuộc về mỗi người dân nam nữ trên 20 tuổi.

Hiến pháp của nước Nhật Bản, được công bố vào ngày 3 tháng 11 năm 1946 và có hiệu lực kể từ ngày 3 tháng 5 năm 1947, quy định rằng nhân dân Nhật Bản thề nguyện trung thành với các lý tưởng hòa bình và trật tự dân chủ. Dù vậy vào ngày 3 tháng 5 năm 2007, Nghị viện đã thông qua một văn bản dưới luật theo đó cho phép chính phủ tổ chức trưng cầu dân ý cho một bản sửa đổi mới vào năm 2010 và sẽ cần hai phần ba số phiếu thuận của Nghị viện để có hiệu lực.

Hoàng Đế ở Nhật bản được gọi là Thiên hoàng (天皇, tennō). Thiên hoàng có quyền lực rất hạn chế ở nhà nước quân chủ lập hiến này. Theo Hiến pháp Nhật Bản (1947), Thiên hoàng chỉ "tượng trưng cho nước Nhật". Đương kim Thiên hoàng Akihito, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1933 tại thủ đôTokyo, lên ngôi ngày 7 tháng 1 năm 1989, đặt niên hiệu là Bình Thành. Ông là con của Thiên hoàng Chiêu Hòa, vị Thiên hoàng trị vì lâu dài nhất (62 năm) và cũng sống lâu nhất (87 tuổi) trong chính sử Nhật Bản.

Thiên hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko có 3 người con (hai trai và một gái). Thái tử Naruhito sinh ngày 23 tháng 2 năm 1960, đã kết hôn với cô Masako và có một con gái. Hoàng tử Akishono có hai con gái và một con trai. Theo Hiến pháp Nhật Bản, chỉ nam giới mới được thừa kế ngai vàng.

6. Khái quát về hệ thống giáo dục tại Nhật Bản:

Nhật Bản được biết đến không chỉ là một nước hùng mạnh về kinh tế bậc nhất thế giới mà còn được coi là nước có hệ thống giáo dục rất đa dạng và chất lượng. Nhật Bản đã chú trọng xây dựng một nền giáo dục hiện đại ngay từ những năm 1950.

Ở Nhật Bản, hệ thông giáo dục có nhiều đặc điểm khác với Việt Nam. Nếu Ở Việt Nam chúng ta có 5 năm Cấp I, 4 năm Cấp II, 3 năm Cấp III, và 4 năm Đại học thì ở Nhật Bản học sinh lại phải trải qua 6 năm Cấp I, 3 năm Cấp II, 3 năm Cấp III và 4 năm Đại học. Nhật Bản cũng có nhiều loại trường học như ở Việt Nam: Mẫu giáo (1 đến 3 năm); Tiểu học (6 năm, từ 6 đến 12 tuổi); Trung học cơ sở (3 năm, từ 13 đến 15 tuổi); Trung học phổ thông (3 năm); Cao đẳng kỹ thuật (Từ 5 đến 5,5 năm); Đại học ngắn hạn (2 năm); Đại học chính quy (4 năm); Trường dạy nghề (1 năm trở lên); Trường trung cấp (1 năm trở lên)

ở Nhật, hầu hết các trường tiểu học đều là trường công, chỉ có khoảng 0,7 trường tiểu học là trường tư. Các trường trung học cở sở cũng vậy, có đến 97% là trường công và chỉ có 3% là trường tư. Có khoảng 27% trường trung học phổ thông là trường tư. Học sinh ở khu vực nào phải theo học ở trường khu vực đấy, muốn học khác tuyến cũng không được. Nhật Bản đang cố gắng tiêu chuẩn hoá trình độ giáo viên trên toàn quốc để đảm bảo chất lượng giảng dạy. ở Nhật Bản có 50 huyện, mỗi huyện chịu trách nhiệm tuyển giáo viên cho huyện mình. Một giáo viên năm nay có thể phụ trách dạy lớp 1, nhưng năm sau có thể dạy lớp 3 hay lớp 5. Cũng thường xuyên quay vòng việc dạy cũng như chuyển dạy từ trường này sang trường khác.
Tổ chức đánh giá giáo dục quốc tế đã tiến hành hai cuộc khảo sát so sánh chất lượng học tập của sinh viên trên toàn thế giới. Kết quả là ở Nhật Bản, sự khác biệt về năng lực và thành tích học tập của sinh viên giữa các trường là tối thiểu, có lẽ là ít nhất trên thế giới. Hầu hết sinh viên, học sinh Nhật Bản đều làm chủ chương trình học. Các chuyên gia giáo dục Nhật bản đã có nhiều dự án nghiên cứu về tình hình kinh tế – xã hội cũng như văn hoá lịch sử, lối sông người dân để tìm ra chương trình giáo dục phù hợp nhất cho mọi cấp. Người Nhật rất “dị ứng” với việc đem hệ thống giáo dục nước khác áp dụng vào nước mình. Có thể đó cũng là một yếu tố đưa hệ thống giáo dục Nhật Bản có được nhiều chuẩn mực riêng. Về sách giáo khoa, các công ty xuất bản liên hệ với các giáo sư và giảng viên các trường đại học chuyên về môn học nào đó để chuẩn bị sách giáo khoa. Những cuốn sách này sẽ trình lên Bộ Giáo dục thông qua. Tiêu chuẩn thông qua dựa trên các khoá học do Bộ tổ chức. Chỉ có những cuốn sách nàp đáp ứng được tiêu chuẩn mới được đưa vào thử nghiệm sử dụng ở trong nhà trường. Bộ có một bộ phận chuyên trách tuyển chọn sách giáo khoa cho từng cấp học, khá nghiêm túc. Nếu thanh tra giáo dục không thông qua cuốn sách nào đó, thì cuốn sách đó không được phép sử dụng trong nhà trường. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt khá lớn về thái độ củat người phương Tây với người Nhật đối với sách giáo khoa.

Trong hệ thống này giáo dục bậc tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc, từ bậc Trung học phổ thông không bắt buộc. Tỷ lệ học cấp III hiện nay của Nhật là gần 100%. Nhật Bản hiện đang có chủ chương phổ cập giáo dục bậc Phổ thông trung học. Tỷ lệ học đại học của Nhật hiện chỉ đứng sau Mỹ( khoảng 50%).

Hiện nay Nhật Bản đang thực hiện các chính sách thu hút sinh viên nước ngoài đến học tập. Rất nhiều trường Dự bị tiếng được mở ra nhằm đáp ứng nhu cầu học tập cho sinh viên nước ngoài. Như trường Kurume, Koiwa, Ngoại ngữ Osaka…Ngoài ra chính phủ Nhật còn hỗ trợ cho lưu học sinh thông qua các chương trình học bổng như Học bổng toàn phần, miễn học phí, hỗ trợ tiền thuê nhà, ăn ở…

Hiện nay, Chính phủ Nhật Bản đang tiếp tục đầu tư cho giáo dục nhằm đưa Nhật Bản trở thành nước có hệ thống giáo dục phát triển nhất thế giới, tạo ra môi trường học tập lý tưởng nhất cho sinh viên Nhật và sinh viên nước ngoài.

- Các kỳ nhập học:

Kỳ nhập học tháng 1, 4, 7 và tháng 10