Viện đào tạo cán bộ

Switch to desktop Register Login

Năm 2012 dù được ngành giao thông lấy là năm “Chất lượng công trình giao thông”, song theo nhận định của Bộ GTVT, những gì đạt được chưa đáp ứng được yêu cầu.

Theo Bộ giao thông, năm 2012 nhiều công trình, dự án giao thông quan trọng đã được khởi công, như hầm đường bộ Đèo Cả, mở rộng QL1 đoạn Nam Bến Thủy- TP. Hà Tĩnh…

Các dự án hoàn thành và đưa vào khai thác vượt kế hoạch như Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc, đường vành đai III Hà Nội giai đoạn 2…

Tuy nhiên, kết quả vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu của Bộ GTVT về kế hoạch thực hiện “Năm chất lượng công trình giao thông 2012”.

Do công tác GPMB cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình chậm, nên khi cao tốc đưa vào sử dụng phải chờ bù lún khiến đường lún nứt nham nhở.

Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Ngọc Đông cho biết, một số dự án giao thông còn có khiếm khuyết về chất lượng đã và đang gây bức xúc trong dư luận xã hội như dự án mở rộng QL 51, một số gói thầu ở dự án đường nối TX Vị Thanh với TP Cần Thơ, dự án cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình xuất hiện hư hỏng tại các vị trí mặt đường quá độ đang theo dõi lún….

Theo ông Đông, còn tình trang trên là do một số chủ đầu tư (Ban quản lý dự án) còn hạn chế về năng lực, kỹ năng nên chưa đáp ứng được yêu cầu với những dự án có quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật cao.

Một số Ban QLDA chưa cương quyết xử lý các nhà thầu thực hiện chậm tiến độ như ở dự án QL 3 Hà Nội - Thái Nguyên, dự án đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng… Có trường hợp Ban QLDA còn thiên về tiến độ, giá thành mà không tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật.

“Thậm chí, chủ đầu tư còn lấn sâu hoặc làm thay chức năng của tư vấn giám sát, làm cho các quyết định không đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật, can thiệp trong việc sử dụng vật liệu trong thi công thiên về tiến độ, giá thành mà không tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật” - Thứ trưởng Đông cho biết.

Trong khi đó, tư vấn giám sát (TVGS) chưa thể hiện hết chức trách, nhiệm vụ của mình, chưa kiểm soát tốt chất lượng công trình trong quá trình thi công.

Ông Đông lấy dẫn chứng, công ty tư vấn QCI tại dự án đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, dự án mở rộng QL 51 có đến 15 đơn vị TVGS, nhưng lại để xảy ra nhiều vi phạm về chất lượng…

“Các dự án như dự án đường HCM, cao tốc Nội Bài – Lào Cai, cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình… sử dụng tư vấn giám sát nước ngoài thì số lượng chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 10%) chủ yếu là các chức danh trưởng tư vấn giám sát, số còn lại là người Việt Nam với chất lượng, trình độ còn hạn chế” - ông Đông chỉ rõ.

Sẽ quy trách nhiệm về chất lượng, tiến độ

Cũng theo ông Đông, một trong những nguyên nhân chính khiến các dự án chậm tiến độ là do trong giai đoạn hiện nay, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, không đủ năng lực theo cam kết, buộc phải xử lý cắt giảm, điều chuyển khối lượng.

Đặc biệt, ở một số dự án BOT, BT triển khai chậm do nhà đầu tư không đáp ứng được tiến độ huy động vốn.


Cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên đoạn thuộc địa phận Hà Nội nguy cơ chậm tiến độ.


Bên cạnh đó, một số dự án nhà thầu không huy động nhân lực, thiết bị thi công theo đúng cam kết dẫn đến tiến độ thi công chậm trễ. Có thể lấy ví dụ như nhà thầu Keangnam tại các gói thầu A4, A5 dự án đường cao tốc Nội Bài -Lào Cai, nhà thầu khi công gói thầu PK1C trên QL 3 Hà Nội- Thái Nguyên…

“Nhiều công trình bị chậm tiến độ so với kế hoạch ban đầu đề ra như cao tốc Hà Nội- Hải Phòng, cao tốc Nội Bài - Lào Cai, QL 3 Hà Nội- Thái Nguyên… Bên cạnh nguyên nhân do chậm trễ GPMB, hoặc do năng lực tài chính của nhà thầu thì một số Ban QLDA còn chưa quan tâm, chú trọng quản lý điều hành, thiếu kiểm tra, đôn đốc tiến độ. Khi gặp các vấn đề khó khăn thì đùn đẩy trách nhiệm cho Bộ, cho các cơ quan quản lý Nhà nước để giải quyết”, ông Đông cho hay.

Để khắc phục tình trạng trên, theo thứ trưởng Đông: “Trong năm 2013, sẽ ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với các hành vi vi phạm về quản lý, đảm bảo chất lượng công trình giao thông đối với cơ quan tham mưu của Bộ, chủ đầu tư và Ban QLDA”.

Theo vietnamnet.vn

Từ trước đến nay, đã có rất nhiều các bài viết về chủ đề quản lý dự án, nhưng lại chủ yếu tập trung vào mảng kỹ thuật, chẳng hạn như giới thiệu các công cụ hỗ trợ, các bộ sưu tập mẫu, tiêu chí quản lý mô hình, sắp xếp mốc thời gian, nhân sự...

Được phê duyệt từ tháng 2/2004, bốn năm sau dự án đường sắt đô thị số 1 (Yên Viên - Ngọc Hồi) mới chính thức được triển khai với tổng vốn đầu tư ban đầu 44.000 tỷ đồng. Hơn 5 năm thực hiện, dự án đến nay dừng ở công đoạn chờ hoàn chỉnh thiết kế tổng thể.

Chiều 23/3, tại cuộc họp với Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng, liên quan đến nghi án một nhà thầu tư vấn Nhật Bản đã hối lộ cán bộ đường sắt Việt Nam khoảng 16 tỷ đồng, ông Trần Ngọc Thành, Chủ tịch Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cho biết, đơn vị đã yêu cầu các cán bộ liên quan giải trình.

Cộng tác Viên "Tư vấn cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng"

Yêu cầu với vị trí 1:
- Trình độ CĐ trở lên, ưu tiên người đã làm Sales, Online tối thiểu 2h/ngày với nội dung liên quan
Quyền lợi: Được cộng tác với Viện đào tạo và tư vấn quản lý xây dựng, Doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực xây dựng có uy tín tại Hà Nội. Được hoạt động và ưu tiên trên trang chủ và diễn đàn Viện, Có cơ hội làm nhân viên của Viện sau thời gian bạn là CTV có những thành tích vượt bậc. Hơn nữa các bạn là CTV của Viện Thì việc đầu tư thời gian của các bạn không nhiều nhưng Các bạn có mức thu nhập tương ứng với khả năng của mình
- Công việc: Tư vấn hoạt động xây dựng cho các cá nhân có nhu cầu xin chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng
- Nơi tuyển dụng: Toàn Quốc
- Hình thức tuyển dụng: Trực tuyến
- Thời gian tuyển dụng:
Hồ sơ yêu cầu: Đơn xin việc, Sơ yếu lý lịch, Bằng tốt nghiệp (tất cả đều là file mềm) các bạn gửi về theo địa chỉ.yh: vientaotaoxaydungbaycb
Gmail. This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
DĐ : 0948801166

Để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ được giao, tư vấn giám sát cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau:images 1

1. Nắm vững các văn bản, quy phạm, pháp luật về quản lý và đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước (hoặc của ngành hiện hành).

2. Có hiểu biết tốt về tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật.

3. Có hiểu biết tốt về công tác xây lắp chủ yếu.

4. Tận tâm, trung thực trong công tác giám sát.

5. Là kỹ sư được đào tạo chuyên ngành và có kinh nghiệm công tác tối thiểu là 3 năm trong lĩnh vực phụ trách, đã có chứng chỉ hành nghề giám sát hoặc được học tư vấn giám sát ở các trường và trung tâm đào tạo ,có đủ năng lực chuyên môn và nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao

6. Nắm vững các căn cứ pháp lý về công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng hiện hành của Nhà nước và của Bộ, Ngành liên quan.

7. Nắm vững nội dung của hồ sơ thiết kế được duyệt, các điều kiện kỹ thuật riêng áp dụng cho các hạng mục công trình do Tổ chức Tư vấn Thiết kế lập. Hợp đồng giao nhận thầu xây lắp. Các tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng, các quy trình, quy phạm về thi công, nghiệm thu hiện hành của Nhà nước và Ngành có liên quan.

8. Nắm vững biện pháp và trình tự thi công được áp dụng.

9. Nắm được tiến độ và yêu cầu nhân lực, máy móc thiết bị cần phải có để thực hiện công việc, đặc biệt là yêu cầu trình độ lành nghề của công nhân tương ứng với công việc họ thực hiện.

10. Phân tích đánh giá được chất lượng hoàn thành.

11. Hiểu và thực hiện đúng công tác nghiệm thu.

12. Khi phát hiện sai lỗi thì lập biên bản thông báo cho Ban QLDA, cấp trên trực tiếp hoặc cán bộ phụ trách kỹ thuật của nhà thầu (đối với sai lỗi của thi công) hoặc cho tổ chức thiết kế (đối với sai lỗi thiết kế) để khắc phục.

Có rất nhiều hình thức và quy mô dự án khác nhau, từ việc thiết kế các trạm không gian đến cài đặt các hệ thống thông tin mới. Tuy nhiên, những yếu tố quan trọng trong công tác quản lý dự án về cơ bản đều giống nhau. Những yếu tố này được giải quyết trong quy trình bốn giai đoạn như sau:images

1. Xác định và tổ chức dự án

2. Lập kế hoạch dự án

3. Quản lý thực hiện dự án

4. Kết thúc dự án

Hình 1-1 thể hiện bốn giai đoạn như một mô hình hợp nhất tuyến tính: trước tiên, xác định và tổ chức dự án, sau đó lập kế hoạch hành động chi tiết, v.v. Nhưng trên thực tế, việc quản lý dự án không phải lúc nào cũng đơn giản và gọn gàng như vậy vì có nhiều khía cạnh trong dự án không thể dự đoán được. Một số khía cạnh có tính chất tiêu cực, chẳng hạn như nhà cung ứng chính có thể ngưng hợp tác, hay người quản lý dự án chuyển sang làm việc cho một công ty khác. Một số khía cạnh khác lại mang tính tích cực. Ví dụ, trong quá trình nghiên cứu một sản phẩm mới, các thành viên trong nhóm dự án có thể phát hiện ra một thị trường mới quan trọng; và việc khai thác thị trường mới đòi hỏi sản phẩm phải có những đặc điểm khác biệt nào đó. Phát hiện này chính là một cơ hội quan trọng nằm ngoài dự kiến của công ty. Nhưng việc nắm bắt cơ hội này yêu cầu tổ chức phải thay đổi lịch trình và ngân sách của dự án. Vì thế, mô hình này cũng không hoàn toàn tuyến tính, và phải có sự phản hồi cùng với khả năng điều chỉnh cả bốn giai đoạn này. Ngay đến giai đoạn cuối cùng của mô hình là kết thúc dự án cũng có sự phản hồi thông báo cho sự khởi đầu của dự án kế tiếp. Sự phản hồi này có thể giúp công ty rút ra bài học kinh nghiệm và cải thiện hiệu suất hoạt động của các dự án trong tương lai.

Dù bạn đang cố gắng xây dựng một hệ thống sao lưu thông tin dự phòng cho mạng máy tính của công ty, hay bận rộn làm việc trên con tàu vũ trụ thám hiểm sao Hỏa, bạn đều phải xử lý quy trình bốn giai đoạn này hoặc một quy trình tương tự. Mỗi giai đoạn sẽ được mô tả vắn tắt dưới đây và được trình bày chi tiết trong các chương sau.

Nguồn: Quản lý dự án lớn và nhỏ  - First News và NXB Tổng hợp TPHCM

Sự thay đổi nhanh chóng và áp lực mạnh mẽ từ các cuộc cạnh tranh khắc nghiệt đã khiến ngày càng nhiều hoạt động của tổ chức trở thành công việc của dự án. Sự thay đổi về công nghệ, nhu cầu, thị hiếu của khách hàng đã làm giảm bớt tính chất thường nhật của công việc.
Công việc đã trở nên phức tạp hơn và các phòng ban của tổ chức vốn được bố trí để làm những việc thường ngày sẽ khó tiếp cận với công việc mới hơn. Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh cũng buộc các tổ chức phải triển khai công việc nhanh hơn.

Để có thể hoàn thành đúng hạn và phù hợp với khoản ngân sách đề ra, dự án cần được quản lý tốt. Quy mô dự án càng lớn, việc quản lý hiệu quả càng khó khăn. Nhà quản lý dự án có nhiệm vụ biến đổi khái niệm mơ hồ ban đầu của cấp lãnh đạo thành một hệ thống có thể vận dụng kiến thức, kỹ năng và nguồn lực cho một mục tiêu quan trọng của tổ chức. Tóm lại, công tác quản lý dự án và người quản lý dự án sẽ giúp tổ chức thực hiện những nhiệm vụ lớn và quan trọng. Vì vậy, việc quản lý dự án một cách hiệu quả có thể mang lại cho tổ chức những lợi ích sau:

• Xúc tiến thực hiện công việc đúng thời hạn và trong phạm vi ngân sách cho phép.

• Rút ngắn thời gian phát triển. Bằng cách đáp ứng các mục tiêu đã đề ra trong phạm vi hợp lý, việc quản lý dự án sẽ giúp giảm thiểu các rủi ro.

• Sử dụng các nguồn lực hiệu quả. Việc quản lý dự án hiệu quả không làm lãng phí tiền bạc hoặc thời gian của nhân viên.

Với những lợi ích này, chúng ta sẽ không lấy làm ngạc nhiên khi các giải pháp quản lý dự án đang được áp dụng ngày càng nhiều cho các công trình xây dựng lớn, trong việc phát triển máy bay quân đội và dân dụng, xây dựng website thương mại điện tử, hoạt hình, và nhiều lĩnh vực khác - thậm chí cả những chiến dịch mang tính chất chính trị.

Nguồn gốc

Việc xác định mục tiêu, tổ chức bộ máy, hoạch định chiến lược, quản lý hoạt động và đặt chúng vào vị trí trung tâm của công tác quản lý dự án không còn là công việc mới mẻ đối với các tổ chức và chắc chắn điều đó đã từng được thực hiện dưới hình thức này hay hình thức khác. Những công trình xây dựng kỳ vĩ của thế giới cổ đại, như kim tự tháp Ai Cập, đấu trường La Mã hay hệ thống đường sá và thủy lợi, hầu hết đều có những đặc điểm của các dự án ngày nay. Những công việc như thế sẽ không thể hoàn tất nếu không có sự đầu tư thích đáng về kỹ thuật, tài chính, nhân công và yếu tố không thể thiếu được là công tác quản lý. Tương tự, giai đoạn cuối thế kỷ 19 được đánh dấu bằng các dự án có quy mô và mức độ phức tạp đáng kinh ngạc: những tòa nhà chọc trời đầu tiên, tuyến đường sắt xuyên lục địa, các con tàu khổng lồ chạy bằng hơi nước…

Ngay từ đầu thế kỷ 20, các nhà cách tân trong lĩnh vực kỹ thuật dân dụng đã bắt đầu suy nghĩ một cách có hệ thống hơn trước những công việc mà họ đang phải đối mặt. Họ bắt đầu áp dụng các phương thức quản lý theo khoa học. Đến thập niên 1930, một số phương pháp đã được các nhà quản lý dự án chuyên nghiệp thời bấy giờ đưa vào sử dụng. Dự án đập ngăn nước Hoover, được xây dựng từ năm 1931 đến năm 1935, đã dùng một công cụ lập kế hoạch bằng đồ thị do Henry Laurence Gantt đề xuất và phát triển. Biểu đồ này hiện nay vẫn được gọi bằng cái tên đơn giản là biểu đồ Gantt. Trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, dự án Manhattan đã nghiên cứu để sản xuất loại vũ khí hạt nhân đầu tiên. Vào cuối thập niên 1950, DuPont, với sự trợ giúp của công nghệ máy tính Remington Rand Univac, áp dụng một phương pháp đã trở nên rất quen thuộc ngày nay là đường tới hạn để quản lý việc vận hành và bảo dưỡng một nhà máy. Gần như cũng tại thời điểm đó, hãng tư vấn Booz Allen & Hamilton đã hợp tác với Lực lượng Hải quân Mỹ xây dựng Kỹ thuật kiểm tra và đánh giá chương trình (PERT) bao gồm các biểu đồ và lịch trình cần thiết cho việc phát triển dự án thiết kế tàu ngầm hạt nhân Polaris.

Ngay khi mới hình thành, các phương pháp quản lý dự án đã nhanh chóng được phổ biến trong các lĩnh vực kỹ thuật dân dụng, xây dựng, công nghiệp quốc phòng và rất nhiều lĩnh vực khác. Trên thực tế, hoạt động của một số công ty là sự nối tiếp của các dự án lớn. Thay vì tổ chức các hoạt động liên quan đến những phòng ban thông thường (như tài chính, tiếp thị…), những công ty này sắp xếp các bộ phận đó vào các dự án chính. Microsoft chính là một công ty như vậy. Dù vẫn có các phòng ban theo mô hình doanh nghiệp truyền thống, nhưng các tổ chức dự án của Microsoft (như Office, Windows, v.v.) có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều đối với sự thành công của công ty, đồng thời xác định phương thức hoạt động của họ.

Nâng cao tính chuyên nghiệp

Nhờ sự phổ biến các phương pháp quản lý dự án, các tổ chức ngày càng tỏ ra hiệu quả hơn trong việc lập kế hoạch và xây dựng cơ cấu. Những phương pháp này cũng trở thành trọng tâm của các khóa học nâng cao, các dịch vụ tư vấn và các chương trình đào tạo về quản lý.

Tính chuyên nghiệp ngày càng tăng trong công việc học quản lý dự án được phản ánh bằng sự phát triển của các tổ chức. Ví dụ, Hiệp hội Quản lý Dự án (Project Management Association) đặt tại Hà Lan - có cơ sở khắp Tây Âu, Nga và một số nước đang phát triển – thường xuyên đào tạo, tổ chức hội thảo về các vấn đề quản lý dự án và tài trợ cho các ấn bản kỹ thuật. Trong khi đó, Viện Quản lý Dự án (Project Management Institute) - có trụ sở tại Mỹ, gần Philadelphia, với hơn 100.000 thành viên thuộc 125 nước trên thế giới - nhận trách nhiệm tài trợ cho việc nghiên cứu và xuất bản, cũng như duy trì một chương trình đào tạo có cấp chứng chỉ được kiểm tra nghiêm ngặt để nâng cao chuyên môn về quản lý dự án. Viện cũng hỗ trợ các nghiên cứu nhằm mở rộng kiến thức về quản lý dự án và đào tạo thông qua các hội thảo chuyên đề định kỳ và các khóa đào tạo trực tuyến.

Điểm bất lợi duy nhất đối với việc nâng cao tính chuyên nghiệp và sự nhất trí về cách thức quản lý dự án là mọi người đều nắm vững phương pháp lập kế hoạch công việc và cách thức làm việc với kế hoạch của họ. Tuy nhiên, khó khăn chính nằm ở việc tiên liệu trước mọi vấn đề có khả năng xảy ra. Những sự việc trong tương lai luôn xuất hiện theo những cách bất ngờ trong quá trình nhóm xúc tiến dự án. Điều này đặc biệt đúng trong những ngành công nghiệp phát triển nhanh. Các nhà quản lý dự án phải tiến hành những bước chuẩn bị để luôn sẵn sàng đối phó với những sự cố bất ngờ, và kế hoạch của họ phải đủ linh hoạt để có thể kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Các nhà quản lý dành hầu như toàn bộ sự chú ý vào việc quản lý rủi ro – một phần của công tác quản lý dự án nhằm dự báo và lập kế hoạch cho những gì có thể diễn tiến không trùng khớp với phán đoán. Điều gì sẽ xảy ra, nếu sản phẩm mẫu thất bại? Điều gì sẽ xảy ra, nếu khách hàng thay đổi yêu cầu trước khi hoàn tất dự án? Kế hoạch đối phó với các sự cố bất ngờ sẽ được triển khai để xử lý những rủi ro này.

Thế nhưng không ai có thể lường trước tất cả những sự cố bất ngờ, cũng như có thể nghĩ đến mọi cơ hội sẽ gặp trong quá trình thực hiện dự án, dù đây chính là những cơ hội khuyến khích nhóm xem xét nhằm điều chỉnh kế hoạch cũ cho phù hợp với tình hình mới. Bên cạnh đó, một khi các kế hoạch và lịch trình đã được nhất trí và đưa vào tài liệu chính thức, chúng sẽ trở thành các nguyên tắc không thể sửa đổi. Những người đi chệch khỏi các đường hướng này, không hoàn thành công việc đúng theo thời hạn hay để chi phí vượt ngân sách đã định sẽ có nguy cơ bị cấp quản lý đánh giá là thiếu năng lực. Khi làm cho kế hoạch và lịch trình trở thành bất di bất dịch, các nhà điều hành đã vô tình nuôi dưỡng một nếp tư duy tiêu cực là các vấn đề nan giải sẽ bị chôn vùi và những cá nhân cảnh báo vấn đề có thể không được giao nhiệm vụ quan trọng, hay thậm chí bị loại ra khỏi nhóm dự án. Những tình huống này rất thường gặp. Những người dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực này có thể chỉ ra một vài dự án mà nếu chỉ xét bề ngoài thì có vẻ như đi đúng hướng. Và dự án đó chỉ thất bại ở cuối chặng đường, khi mọi người không dám lên tiếng về những vấn đề họ nhận ra. Nhiều tuần hay nhiều tháng sau, đến cuối dự án, những vấn đề này mới lộ rõ, và lúc đó đã quá muộn để xử lý.

Tất cả những khía cạnh khác nhau liên quan đến dự án cũng như việc quản lý dự án sẽ được đề cập chi tiết trong nội dung cuốn sách “Quản lý dự án lớn và nhỏ” này. Cũng như những cuốn khác trong bộ sách “Cẩm nang kinh doanh Harvard”, cuốn sách này sẽ không giúp bạn trở thành một chuyên gia xuất sắc về quản lý dự án. Nhưng với phần nội dung chi tiết, hướng dẫn thiết thực kèm theo những minh họa điển hình, cuốn sách sẽ giúp những ai đang làm công tác quản lý biết cách thực hiện thành công một dự án, dù dự án ở bất kỳ quy mô và mức độ phức tạp nào.

Nguồn: Quản lý dự án lớn và nhỏ - First News và NXB Tổng hợp TPHCM

Tư vấn giám sát (TVGS) chất lượng công trình xây dựng có nhiệm vụ chính là giúp chủ đầu tư giám sát về chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn lao động và môi trường trong thi công xây dựng công trình theo nhiệm vụ thỏa thuận với chủ đầu tư trong hợp đồng kinh tế. Chủ thể TVGS không trực tiếp làm ra sản phẩm công trình xây dựng, nhưng lại là một nhân tố quan trọng quyết định việc kiểm soát chất lượng của một công trình xây dựng.
Chưa bám sát hiện trường

Thực trạng công tác TVGS trong nước hiện nay đang còn tồn tại nhiều bất cập ở các khâu đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề, mức thu nhập, năng lực chuyên môn, quyền hạn và trách nhiệm trong công việc, xử lý vi phạm đối với các hành vi tiêu cực.

Năng lực chuyên môn, kinh nghiệm của đội ngũ TVGS chưa đồng đều, nhất là kiến thức chuyên môn đối với các hạng mục công việc có tính chất kỹ thuật phức tạp. Công tác đào tạo trong việc hành nghề hoạt động xây dựng nói chung hiện nay tại một số tổ chức chưa tốt, hoạt động mang tính hình thức còn nặng về lợi nhuận, không chú trọng vào công tác chất lượng đào tạo. Công tác cấp chứng chỉ hành nghề TVGS được giao cho các địa phương thực hiện, tuy nhiên việc quy định điều kiện để cấp chứng chỉ còn hình thức, chưa có cơ chế sát hạch, kiểm tra để đảm bảo người được cấp chứng chỉ có năng lực phù hợp với lĩnh vực được cấp chứng chỉ hành nghề. Hệ thống đăng tải thông tin về tổ chức, cá nhân hành nghề TVGS mặc dù đã được xây dựng nhưng chưa vận hành hiệu quả.

Việc đào tạo, sát hạch và cấp chứng chỉ hành nghề giám sát chưa được kiểm soát chặt chẽ. Do đó, trong nhiều trường hợp TVGS chưa thực hiện nghiêm túc chức trách, nhiệm vụ của mình, không kiểm soát được chất lượng công trình trong quá trình thi công của nhà thầu; không bám sát hiện trường để kịp thời xử lý các phát sinh bất hợp lý, chưa kiên quyết xử lý các vi phạm về chất lượng trong quá trình thực hiện dự án.

Một số tổ chức, cá nhân TVGS chưa thực hiện đúng nghĩa vụ, quyền hạn theo quy định, cá biệt có trường hợp còn phụ thuộc vào chủ đầu tư và nhà thầu dẫn đến không thể nâng cao vai trò trách nhiệm trong công việc.

Mức thu nhập thực nhận đối với những cá nhân tham gia công tác TVGS đang còn thấp, chưa tương xứng khi làm việc trong lĩnh vực “nhạy cảm” này. Điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến một bộ phận đội ngũ TVGS vi phạm đạo đức nghề nghiệp, ở một số trường hợp còn có hành vi tiêu cực, thông đồng, thỏa thuận với nhà thầu thi công làm ảnh hưởng đến chất lượng thi công và xây dựng công trình.

Chế tài xử lý vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân TVGS chưa được quy định cụ thể gây khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong xử lý khi phát hiện các hành vi vi phạm, do đó làm giảm tính răn đe và hiệu lực quản lý của pháp luật đối với hoạt động TVGS.

Quy định rõ hành vi vi phạm

Để hạn chế những tồn tại, bất cập nêu trên, bài viết xin đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước với hoạt động TVGS.

1. Cơ quản quản lý nhà nước cần hoàn thiện và đưa vào vận hành trang thông tin điện tử quản lý cơ sở dữ liệu về thông tin của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động TVGS, kể cả nhà thầu và cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (bao gồm thông tin về chữ ký cá nhân, hồ sơ lý lịch, quá trình học tập và công tác, vi phạm pháp luật, kỷ luật, khen thưởng của cá nhân hành nghề TVGS; thông tin về năng lực của tổ chức hành nghề TVGS...) Yêu cầu các tổ chức, cá nhân phải bắt buộc đăng ký trước khi tham gia hành nghề TVGS. Đây là cơ sở dữ liệu quan trọng để các chủ đầu tư căn cứ kiểm tra thông tin và lựa chọn được tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực phù hợp thực hiện công tác TVGS.

2. Cần quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hành nghề TVGS, từ đó ban hành chế tài xử lý vi phạm cụ thể, trong đó quy định rõ các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt đủ mạnh (bao gồm phạt tiền, cấm hành nghề, các trường hợp xử lý hình sự đối với tổ chức, cá nhân TVGS) và có biện pháp tổ chức thực hiện nghiêm để đảm bảo tính răn đe, ngăn ngừa các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân thực hiện giám sát công trình xây dựng.

3. Có cơ chế thích hợp như khen thưởng, ưu tiên nhận thầu... để khuyến khích các tổ chức, cá nhân TVGS thực hiện tốt quy định của pháp luật về quản lý chất lượng công trình; thực hiện giám sát các công trình đạt chất lượng cao.

4. Điều chỉnh lại định mức chi phí cho công tác TVGS. Hiện nay chi phí TVGS cho các dự án được thực hiện giám sát bởi các đơn vị tư vấn trong nước, nhất là công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách phần lớn được thực hiện theo quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/9/2009. Nhìn chung mức thu nhập của các cá nhân tham gia công tác giám sát còn thấp, dẫn đến phát sinh các hiện tượng tiêu cực. Nên đối với lĩnh vực TVGS cần tăng định mức chi phí.

5. Tăng cường rà soát, kiểm tra công tác đào tạo TVGS. Đổi mới việc cấp chứng chỉ hành nghề theo hướng tổ chức sát hạch để công tác cấp chứng chỉ hành nghề đảm bảo thực chất và tránh tiêu cực.

6.Tổ chức các lớp học tư vấn giám sát để đạo tạo ra đội ngũ TVGS có chất lượng

Để giải quyết được những vấn nêu trên, cần sửa đổi quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 209/2004/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, Nghị định số 23/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng... để trình Chính ban hành và ban hành theo thẩm quyền và sớm ban hành các Thông tư hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng các cấp cần tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hoạt động TVGS trong hoạt động xây dựng hiện nay.

Căn cứ Quyết định số 12/2005/QĐ-BXD ngày 18/4/2005 và thông tư số 12/2009/TT-BXD về việc cấp chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát xây dựng cần các yêu cầu sau:

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên (đối với chứng chỉ hành nghề loại màu đỏ) hoặc bằng tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp (đối với chứng chỉ hành nghề loại màu hồng) thuộc chuyên ngành đào tạo phù hợp với nội dung xin đăng ký hành nghề, do cơ sở đào tạo hợp pháp của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp;

- Đã trực tiếp tham gia thực hiện thiết kế hoặc thi công xây dựng từ 3 năm  trở lên hoặc đã tham gia thực hiện thiết kế, thi công xây dựng ít nhất 5 công trình  được nghiệm thu bàn giao;

- Đã thực hiện giám sát thi công xây dựng công trình từ 3 năm trở lên.

- Có chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ giám sát thi công xây dựng phù hợp với loại công trình xin cấp chứng chỉ do cơ sở đào tạo được Bộ Xây dựng công nhận cấp.

1. Chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát xây dựng bao gồm:

a) Chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát xây dựng (giám sát công tác khảo sát xây dựng):

- Chứng chỉ hành nghề giám sát khảo sát địa chất công trình.

Chứng chỉ hành nghề giám sát khảo sát thuỷ văn công trình.

Chứng chỉ hành nghề giám sát khảo sát địa hình công trình.

b) Chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát xây dựng công tác xây dựng và hoàn thiện:

- Chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp.

Chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát công trình hạ tầng kỹ thuật.

Chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát công trình xây dựng giao thông.

Chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát công trình thuỷ lợi, thủy điện.

Chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát công trình cấp thoát nước.

c. Chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát thi công lắp đặt thiết bị:

- Chứng chỉ hành nghề giám sát lắp đặt thiết bị công trình.

Chứng chỉ hành nghề giám sát công trình cơ điện dân dụng công nghiệp.

Chứng chỉ hành nghề giám sát công trình viễn thông và mạng thông tin liên lạc.

Chứng chỉ hành nghề giám sát công tác lắp đặt thiết bị công nghệ.

Chứng chỉ hành nghề giám sát công tác lắp đặt thiết bị thông gió và điều hòa không khí .

- Chứng chỉ hành nghề giám sát công trình điện, đường dây và trạm biến áp từ 35KV đến 500KV.

2. Hồ sơ xin chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát xây dựng:

Hồ sơ cần thiết bao gồm:

+  04 ảnh 3×4

+  04 bằng tốt nghiệp (Đại học, Cao đẳng, Trung cấp) photo công chứng.

+  04 Chứng minh thư photo công chứng.

+  03 chứng nhận hoàn thành khóa học tư vấn giám sát công chứng.

+ Bản kê khai kinh nghiệm, quá trình công tác

Trích thông tư Sở Xây Dựng

Trong thời buổi kinh tế phát triển như hiện nay,nhu cầu xây dựng ngày càng mở rông đòi hỏi cần có một số lượng lớn nhân lực cho nghành xây dựng.Ngoài các trường Đại Học hay Cac Đẳng đào tạo các kỹ sư xây dựng ra còn có rất nhiều trung tâm đào tạo khác nhằm đạo tạo về các chứng chỉ xây dựng như chứng chỉ hành nghề giám sát ,chứng chỉ định giá....Vì vậy viendaotao.edu.vn ra đời để giúp cho các bạn có cơ hội tìm kiếm các chứng chỉ về xây dựng một cách nhanh nhất.Chúng tôi liên tục tuyển sinh mở các lớp về chứng chỉ hành nghề giám sát,chứng chỉ định giá,các khóa học về quản lý dự án ,học đấu thầu và còn nhiều khóa học khác nữa .Các bạn muốn tham gia học tư vấn giám sát xin liên hệ với chúng tôi.
P.203 Nhà G – Ngõ 43 - Đường Phùng Khoang – Trung Văn- Từ Liêm – Hà Nội
0462951359
0945089707
http://viendaotaocanbo.edu.vn/

Phần lớn công trình xây dựng là sản phẩm có đầu tư lớn, thời gian xây dựng và sử dụng lâu dài, liên quan đến nhiều ngành khoa học kỹ thuật, mặt khác lại có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế xã hội, an ninh của đất nước. Công tác xây dựng công trình phải đạt được 3 yếu tố: Tiến độ, giá thành, chất lượng. Cả 3 yếu tố đó đều có liên quan mật thiết với nhau và hiểu theo nghĩa rộng thì cũng chính là chất lượng của xây dựng. 

Muốn có chất lượng, điều kiện quyết định là người trực tiếp làm ra sản phẩm; đó là công nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư phải có nhiệt tình lao động, hiểu biết kỹ thuật nghề nghiệp, luôn luôn chú ý làm tốt ngay từ đầu ở tất cả mọi khâu, thấy sai phải sửa chữa nhanh chóng và triệt để. Mặt khác công tác giám sát tức là công tác kiểm tra đôn đốc, chỉ đạo và đánh giá công việc của những người tham gia công trình có tác dụng phòng ngừa cũng rất cần thiết. Nó lấy hoạt động của hạng mục công trình làm đối tượng, lấy pháp luật, quy định chính sách và tiêu chuẩn kỹ thuật có liên quan, văn bản hợp đồng công trình làm chỗ dựa, lấy nâng cao hiệu quả xây dựng làm mục đích. 
Công tác giám sát phải quán triệt ngay từ khâu chuẩn bị (như điều tra khảo sát lập dự án), thực hiện dự án (lập thiết kế, tổng dự toán, đấu thầu, quản lý công trình, quản lý hợp đồng), đưa công trình vào sử dụng (bảo trì). Trước kia, việc giám sát xây dựng thường do các cơ quan Nhà nước làm (Cục, Vụ, Sở, Phòng, Ban kiến thiết cơ bản, Ban quản lý công trình). Từ khi nước ta phát triển theo nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường, công tác giám sát trực tiếp dần dần chuyển cho các tổ chức (Công ty, Xí nghiệp, trung tâm) tư vấn đảm nhiệm. Bên cạnh đó các cơ quan Chính phủ (Trung ương, địa phương) dần dần đảm nhiệm công tác quản lý nhà nước tức giám sát nhà nước. Việc giám sát do các xí nghiệp, công ty làm còn được gọi là giám sát xã hội - được thực hiện theo các hợp đồng với Chủ đầu tư, cơ quan nhà nước theo cơ chế thị trường. Vai trò của các tổ chức tư vấn (trong đó có nhiệm vụ tư vấn giám sát) được Luật Xây dựng, các Nghị định, Thông tư, Quyết định của Chính phủ, các Bộ, UBND tỉnh xác nhận, quy định cụ thể vừa tạo điều kiện cho các tổ chức đó hoạt động vừa quy trách nhiệm đòi hỏi phải làm tốt nhiệm vụ được giao. Việc sử dụng các tổ chức tư vấn làm công tác giám sát thay thế cho các tổ chức của Nhà nước - tuy rằng có nơi, có thời kỳ, có vụ việc còn do có cơ quan nhà nước làm - đã được Trung ương cũng như địa phương quan tâm. Gần 20 năm qua công tác tư vấn giám sát đã được làm quen dần với các thông lệ quốc tế và trở thành một lĩnh vực có tác dụng quan trọng trong việc quản lý chất lượng. Tuy vậy còn tồn tại nhiều vấn đề trong quan điểm, trong cách tiến hành, cách đánh giá cần bàn bạc để rút kinh nghiệm ngày càng tốt hơn. 
1. Vai trò đích thực của tư vấn giám sát. Các loại giám sát xây dựng 
Trong thực tế sản xuất các cơ quan có trách nhiệm, các cơ quan thông tin báo chí mỗi khi có sai sót, sự cố trong xây dựng thường tìm ngay đến người giám sát và hầu như quy trách nhiệm chính cho họ. Ở nhiều trường hợp điều đó đúng nhưng cũng có nhiều trường hợp không thật chính xác. Việc quy trách nhiệm không đúng dễ dẫn đến không tìm đúng nguyên nhân để tìm cách khắc phục. Ví dụ trong công tác thẩm định thiết kế (một loại giám sát) không yêu cầu người giám sát phân tích lại toàn bộ như nhà thiết kế mà chỉ cần đi vào 4 điểm theo quy định. Nhà thiết kế phải chịu trách nhiệm về chất lượng của thiết kế. Trong giai đoạn thì người giám sát của chủ đầu tư chỉ di sâu vào các khâu chính đã thống nhất với chủ đầu tư chứ không thể theo sát từng khâu thi công. Đó phải là công việc của giám sát của nhà thi công có điều kiện đi sát hiện trường theo dõi trực tiếp người công nhân, lao động. Chính những người đó phải nghiệm thu trước theo quy định rồi mới chuyển cho giám sát của chủ đầu tư. Ta thường quên vai trò của loại giám sát viên của bên thi công khiến họ thường ỷ lại vào giám sát của chủ đầu tư thậm chí có khi làm chưa xong đã mời giám sát của chủ đầu tư nghiệm thu. Vấn đề giám sát tác giả chủ yếu là để xử lý khi có yêu cầu thay đổi thiết kế chứ không chịu trách nhiệm về việc thi công phải làm đúng theo thiết kế. Cần tránh tình trạng xem giám sát tác giả như là một giám sát của chủ đầu tư, hoặc yêu cầu thiết kế thay đổi thiết kế một cách tuỳ tiện. Có phân định trách nhiệm rõ ràng như vậy mới tránh tình trạng ỷ lại, dựa dẫm vào nhau, khi xẩy ra vấn đề không biết quy kết cho ai. 
2. Việc sử dụng tổ chức tư vấn giám sát 
Luật Xây dựng (Điều 4) cho phép: Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án (trong đó có công tác giám sát) hoặc tự mình trực tiếp quản lý dự án (bao gồm công tác giám sát). Trong thực tế chủ đầu tư thường muốn tự mình trực tiếp quản lý lấy dự án, việc này dễ dẫn đến việc giám sát thường không khách quan. Tốt nhất là nên thuê tổ chức tư vấn giám sát như ở các nước trên thế giới. Các tổ chức tư vấn do được chuyên môn hoá có điều kiện nâng cao trình độ, tiếp thu công nghệ mới sẽ làm tốt hơn nhiệm vụ giám sát khác với các cán bộ kiêm nhiệm ở các Ban quản lý của Chủ đầu tư. 
3. Việc tổ chức thực hiện 
Muốn việc tham gia quản lý chất lượng của các tổ chức tư vấn có hiệu quả cần tổ chức thực hiện tốt, có hợp đồng chặt chẽ giữa chủ đầu tư và tổ chức tư vấn bằng các văn bản chi tiết. Tốt nhất nên theo mẫu của Hiệp hội Quốc tế các kỹ sư tư vấn (FIDIC) đã thông dụng trên thế giới. Trong mẫu đó có quy định cụ thể rõ ràng các công việc mà tổ chức tư vấn phải làm, phạm vi quyền hạn và trách nhiệm, các việc xử lý khi đôi bên có thiếu sót (như chậm tiến độ, kém chất lượng), việc bảo hiểm trách nhiệm. Cần tập làm theo mẫu của FIDIC để quen dần với thông lệ quốc tế tránh bỡ ngỡ khi hội nhập. Ngoài ra giữa các tổ chức tư vấn và giám sát viên cũng cần có hình thức hợp đồng theo dạng phiếu giao việc, nêu cụ thể những gì giám sát viên phải làm, việc nào được quyền giải quyết, việc nào phải báo cáo xin ý kiến của cấp trên. Cần quy định cụ thể phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm của giám sát viên, tránh các trường hợp bỏ sót việc như không có mặt để kiểm tra trước khi thi công các phần ẩn dấu chẳng hạn hoặc giải quyết quá phạm vi quyền hạn cho phép như tự ý giải quyết về mặt kỹ thuật hoặc giảm bớt khối lượng công việc cho phía thi công. 
Trong khâu thực hiện cũng cần phân biệt giữa nhiệm vụ giám sát nói chung của tổ chức tư vấn với nhiệm vụ cử cán bộ (kỹ sư, cán bộ kỹ thuật) bám sát công trường hàng ngày - kiểu kỹ sư thường trú. Nếu chủ đầu tư cần kỹ sư thường trú ở thời điểm nào, ở công đoạn nào cần bàn bạc kỹ và có văn bản ký với tổ chức tư vấn. Kỹ sư thường trú sẽ ở lại hiện trường theo dõi sát sao nhiệm vụ công trình. Tuy vậy không phải ở đâu, bao giờ kỹ sư thường trú đều phải có mặt. Đo đó cần có văn bản thoả thuận với bên chủ đầu tư. Chủ đầu tư phải tạo điều kiện cho họ làm việc (nhà ở, nơi làm việc, các phương tiện đi lại), thông tin (điện thoại, fax, email), có tài liệu cần thiết liên quan đến công trình (như đặc trưng kỹ thuật, tiêu chuẩn). Họ cần được xem xét để trả thêm một số phụ cấp như xa gia đình, làm thêm. 
4. Áp dụng ISO 9000 trong công tác quản lý chất lượng 
Bản thân tổ chức tư vấn cần xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9000 - 2000 cho đơn vị mình, quán triệt đến tường người, từng bộ phận. Đối với mỗi dự án cần phải làm kế hoạch chất lượng của dự án đó theo ISO 9000-2000. Tiến tới các tổ chức tư vấn cần phải nghiên cứu xây dựng hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000. Đây là một yêu cầu cấp bách của thế giới, đối với ta lại càng cần thiết khi hội nhập quốc tế. 
5. Nghiên cứu việc giao cho các công ty tư vấn đã trúng thầu thiết kế được tiếp tục làm công tác giám sát 
Kinh nghiệm thế giới cho thấy khi người giám sát vừa là người thiết kế sẽ nắm vấn đề rất nhanh, phát hiện sớm các sai sót, giúp đỡ được nhiều cho chủ đầu tư và bên nhà thầu xây dựng. 
6. Tổ chức  tư vấn giám sát phấn đấu bảo đảm tính độc lập, khách quan và trong sạch không tham gia móc ngoặc, thông đồng với chủ đầu tư hoặc bên thi công
Cần giáo dục, xem đó là một hành động vi phạm đạo đức hành nghề, đưa đến tổn thất cho cộng đồng, cho tổ chức tư vấn và cả người giám sát. Sau này các tổ chức có thẩm quyền của Nhà nước, của các tổ chức phi chính phủ sẽ tiến hành ghi sổ đen cho những tổ chức, người vi phạm tiến tới loại trừ ra, không giao việc. 
7. Muốn giúp đỡ các tổ chức tư vấn giám sát quản lý chất lượng cần nghiên cứu nâng thêm chi phí giám sát, thanh toán đầy đủ kịp thời các chi phí cho các tổ chức, tránh tình trạng dây dưa chiếm dụng như hiện nay thường gặp.
Nguồn tin: Theo T/C Xây dựng