Bốn giờ chiều, tổ thi công đã tháo xong ván khuôn và chuẩn bị chuyển bước. Kỹ thuật nhà thầu trình đề nghị nghiệm thu công việc xây dựng kèm tập hồ sơ, thiếu đúng một tờ: phiếu kết quả thí nghiệm. Người giám sát đứng giữa hai áp lực — ký thì thiếu căn cứ, không ký thì cả dây chuyền dừng lại.
Câu trả lời không nằm ở kinh nghiệm cá nhân, mà ở một vế câu rất cụ thể trong Nghị định 207/2026/NĐ-CP — văn bản quy định chi tiết Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình, hiệu lực từ 01/7/2026.
Câu trả lời: có điều kiện, không phải “có” hay “không” tuyệt đối
Câu hỏi “thiếu kết quả thí nghiệm có được nghiệm thu công việc xây dựng không” thường bị trả lời bằng hai thái cực đều sai: “thiếu là dứt khoát không nghiệm thu” và “cứ nghiệm thu trước, bổ sung sau”.
Khoản 2 Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định người giám sát thi công xây dựng phải căn cứ hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công, chỉ dẫn kỹ thuật được phê duyệt, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn được áp dụng, các kết quả kiểm tra, thí nghiệm chất lượng vật liệu, thiết bị, kết quả quan trắc được thực hiện trong quá trình thi công có liên quan đến đối tượng nghiệm thu để kiểm tra các công việc xây dựng được yêu cầu nghiệm thu.
Vế “có liên quan đến đối tượng nghiệm thu” là bản lề của vấn đề. Nghị định không đòi đủ mọi kết quả thí nghiệm của công trình, mà đòi đủ những kết quả là căn cứ đánh giá chính đối tượng đang nghiệm thu. Thiếu nhóm này thì không có cơ sở kết luận; thiếu ngoài nhóm này là tồn tại hồ sơ phải xử lý riêng.
Ranh giới đó không do người ký biên bản tự đặt ra. Khoản 1 Điều 22 nêu nghiệm thu công việc căn cứ vào kế hoạch tổ chức thí nghiệm, kiểm tra và tiến độ thi công thực tế. Kế hoạch do nhà thầu lập, trình chủ đầu tư chấp thuận (điểm a khoản 3 Điều 15), được giám sát xem xét (điểm b khoản 1 Điều 20); nhà thầu phải thí nghiệm đúng kế hoạch (khoản 3 Điều 6), việc lấy mẫu phải được giám sát (khoản 4 Điều 6). Việc lập, điều chỉnh kế hoạch thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng tại Thông tư 32/2026/TT-BXD (khoản 5 Điều 6). Xem thêm bài các điểm kiểm soát quan trọng trong quản lý chất lượng thi công.
Sáu tình huống “thiếu kết quả thí nghiệm”
Chữ “thiếu” che giấu sáu tình huống khác nhau về bản chất; gộp chung là nguyên nhân của cả hai loại sai: từ chối vô căn cứ và nghiệm thu khi chưa đủ căn cứ.
1. Kết quả là căn cứ bắt buộc để đánh giá đối tượng nghiệm thu
Phép thử được thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng hoặc kế hoạch đã chấp thuận xác định là chỉ tiêu nghiệm thu của chính công việc đang xét; không có kết quả thì không thể kết luận đạt hay không đạt. Khoản 1 Điều 22 buộc người trực tiếp giám sát và người phụ trách kỹ thuật thi công chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá chất lượng công việc đã nghiệm thu; khoản 10 Điều 15 buộc nhà thầu thí nghiệm trước khi đề nghị nghiệm thu.
2. Phép thử đã hoàn thành nhưng phiếu chưa phát hành
Mẫu đã lấy đúng quy trình, có giám sát chứng kiến, phép thử đã xong, chỉ còn khâu phát hành phiếu — chưa hoàn tất tài liệu chứng minh chứ không thiếu căn cứ kỹ thuật. Xử lý đúng là chờ phiếu chính thức rồi ký, vì điểm e khoản 4 Điều 22 cho phép biên bản có phụ lục kèm theo. Trong thời gian chờ vẫn phải thực hiện khoản 3 Điều 22: trong không quá 24 giờ kể từ khi nhận đề nghị, phải nghiệm thu hoặc thông báo lý do bằng văn bản.
Tuyệt đối không ký lùi ngày hoặc ký trước rồi kẹp phiếu phát hành sau: khoản 8 Điều 15 quy định hồ sơ quản lý chất lượng của các công việc xây dựng phải phù hợp với thời gian thực hiện thực tế tại công trường. Biên bản ghi ngày 10 mà viện dẫn phiếu phát hành ngày 14 là mâu thuẫn nội tại.
3. Kết quả thiếu không liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiệm thu
Đang nghiệm thu công tác cốt thép một cấu kiện mà hồ sơ thiếu phiếu thí nghiệm vật liệu của hạng mục khác. Theo giới hạn phạm vi tại khoản 2 Điều 22, thiếu sót này không phải căn cứ từ chối công việc đang xét — nhưng vẫn phải ghi nhận và yêu cầu bổ sung bằng văn bản riêng. Tránh hai lỗi đối xứng: giám sát gộp mọi tồn tại hồ sơ vào một lý do từ chối chung chung; nhà thầu viện cớ “không liên quan” để né chỉ tiêu đánh giá của công việc đang nghiệm thu.
4. Đã có kết quả nhưng không đạt
Đây không phải “thiếu” mà là “có và không đạt”: không chấp nhận nghiệm thu. Điểm d khoản 4 Điều 22 yêu cầu biên bản nêu rõ chấp nhận hay không, có đồng ý triển khai công việc tiếp theo hay không, yêu cầu sửa chữa, hoàn thiện. Khoản 9 Điều 15 buộc nhà thầu dừng thi công phần việc có sai sót và khắc phục; điểm h khoản 1 Điều 20 cho phép giám sát yêu cầu tạm dừng thi công.
Kết quả không đạt cũng không được biến mất khỏi hồ sơ bằng cách thí nghiệm lại tới khi có phiếu đẹp: khoản 2 Điều 6 buộc đơn vị thí nghiệm cung cấp số liệu trung thực, khách quan. Thí nghiệm bổ sung, đối chứng, kiểm định để đánh giá lại là hợp pháp; loại bỏ kết quả bất lợi thì không.
5. Hồ sơ đủ nhưng có dấu hiệu nghi ngờ chất lượng
Phiếu đủ, số liệu đạt, nhưng hiện trường cho tín hiệu ngược: bê tông rỗ bất thường, nứt không giải thích được, vật liệu khác cảm quan so với mẫu đã duyệt, hoặc thời điểm trên phiếu lấy mẫu không khớp nhật ký.
Điểm i khoản 1 Điều 20 trao thẩm quyền tương ứng: kiểm tra phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, công tác lấy mẫu, lưu mẫu và công tác thí nghiệm phù hợp với giai đoạn thi công; kiểm tra, đánh giá kết quả thí nghiệm vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng, kết quả quan trắc và tài liệu liên quan phục vụ nghiệm thu. Nhờ đó giám sát không phải mặc nhiên chấp nhận một phiếu “trên giấy”; khoản 7 Điều 15 còn đòi phòng thí nghiệm đủ năng lực và trực tiếp thực hiện phép thử.
6. Cần thí nghiệm đối chứng hoặc kiểm định xây dựng
Điều 8 Nghị định 207/2026/NĐ-CP là cơ chế dành riêng cho trường hợp căn cứ nghiệm thu bị khuyết hoặc bị nghi ngờ:
- Điểm b khoản 1 Điều 8: thí nghiệm đối chứng khi vật liệu, sản phẩm, thiết bị lắp đặt vào công trình hoặc công trình được thi công có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng theo hồ sơ thiết kế.
- Điểm b khoản 2 Điều 8: kiểm định xây dựng, thử nghiệm khả năng chịu lực khi công trình, bộ phận công trình đã thi công có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng hoặc không đủ các căn cứ để đánh giá chất lượng, nghiệm thu hoặc xảy ra sự cố.
Vế “không đủ các căn cứ để đánh giá chất lượng, nghiệm thu” chính là lối ra hợp pháp khi hồ sơ thí nghiệm bị thiếu, mất hoặc không tin cậy trong khi công việc đã bị che khuất. Khoản 9 Điều 16 giao chủ đầu tư tổ chức thí nghiệm đối chứng, kiểm định; điểm k khoản 1 Điều 20 đưa nội dung này vào công việc giám sát. Theo khoản 4 Điều 8, nhà thầu chịu chi phí kiểm định nếu kết quả chứng minh được lỗi của mình; còn lại tính vào tổng mức đầu tư.
| Tình huống | Kết luận | Căn cứ chính |
|---|---|---|
| 1. Thiếu chỉ tiêu đánh giá đối tượng | Không chấp nhận nghiệm thu | Khoản 1, 2 Điều 22; khoản 10 Điều 15 |
| 2. Đã thí nghiệm, chưa có phiếu | Chưa ký; ra văn bản trong 24 giờ; ký khi có phiếu | Khoản 3, điểm e khoản 4 Điều 22; khoản 8 Điều 15 |
| 3. Thiếu kết quả không liên quan | Không chặn; yêu cầu bổ sung riêng | Khoản 2 Điều 22 |
| 4. Kết quả không đạt | Không chấp nhận; yêu cầu khắc phục | Điểm d khoản 4 Điều 22; khoản 9 Điều 15 |
| 5. Nghi ngờ chất lượng | Chưa nghiệm thu; kiểm tra lấy mẫu, lưu mẫu | Điểm i khoản 1 Điều 20; khoản 4 Điều 6 |
| 6. Không đủ căn cứ, đã che khuất | Đối chứng hoặc kiểm định trước khi kết luận | Điểm b khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 8 |
Cây quyết định tại hiện trường
Đi theo trình tự sau, dừng ở bước đầu tiên cho ra kết luận:
- Bước 1. Xác định rõ đối tượng nghiệm thu: công việc nào, vị trí nào, hạng mục nào.
- Bước 2. Tra kế hoạch thí nghiệm đã chấp thuận, thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật: phép thử nào là chỉ tiêu đánh giá của đối tượng đó? Kết quả thiếu không nằm trong danh mục → tình huống 3.
- Bước 3. Nằm trong danh mục mà chưa thí nghiệm → tình huống 1.
- Bước 4. Đã thí nghiệm, chưa phát hành phiếu → tình huống 2.
- Bước 5. Đã có phiếu, kết quả không đạt → tình huống 4.
- Bước 6. Kết quả đạt nhưng hiện trường hoặc quy trình lấy mẫu bất thường → tình huống 5.
- Bước 7. Không khôi phục được căn cứ bằng thí nghiệm thông thường → tình huống 6.
Cả bảy bước phải để lại dấu vết bằng văn bản; xem thêm bài kỹ năng ghi nhận hiện trường và xử lý sai khác trong thi công.
Ranh giới bắt buộc: Điều 22 không có “nghiệm thu có điều kiện”
Khoản 3 Điều 24 Nghị định 207/2026/NĐ-CP cho phép chủ đầu tư quyết định tổ chức nghiệm thu có điều kiện hạng mục công trình, công trình xây dựng khi thi công cơ bản đã hoàn thành theo thiết kế nhưng còn tồn tại không ảnh hưởng khả năng chịu lực, thời hạn sử dụng, công năng công trình. Quy định này thường bị mượn để hợp thức hóa biên bản nghiệm thu công việc xây dựng thiếu kết quả thí nghiệm — sai ở ba tầng.
| Tiêu chí | Điều 22 — công việc xây dựng | Khoản 3 Điều 24 — có điều kiện |
|---|---|---|
| Đối tượng | Công việc xây dựng tại công trường | Hạng mục công trình, công trình xây dựng |
| Người quyết định | Người trực tiếp giám sát và người phụ trách kỹ thuật thi công | Chủ đầu tư |
| Kết luận | Chấp nhận hoặc không chấp nhận | Chấp nhận kèm tồn tại và thời hạn khắc phục |
| Điều kiện | Đủ căn cứ đánh giá theo khoản 2 Điều 22 | Thi công cơ bản hoàn thành; tồn tại không ảnh hưởng chịu lực, thời hạn sử dụng, công năng |
Sai đối tượng. Điều 22 điều chỉnh nghiệm thu công việc xây dựng; khoản 3 Điều 24 điều chỉnh nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng — hai cấp độ đối tượng, hai chủ thể quyết định khác nhau.
Điều 22 không có trạng thái trung gian. Điểm d khoản 4 Điều 22 chỉ có hai trạng thái: chấp nhận hoặc không chấp nhận, kèm yêu cầu sửa chữa. Nghị định không quy định “nghiệm thu tạm” hay “nghiệm thu có điều kiện” ở cấp công việc xây dựng.
Nghiệm thu có điều kiện không miễn trừ điều kiện của khoản 1 Điều 24. Điểm b khoản 1 Điều 24 đòi nghiệm thu công việc, bộ phận, giai đoạn phải được thực hiện đầy đủ theo Điều 22, Điều 23; điểm c đòi kết quả thí nghiệm, quan trắc, kiểm định, thử nghiệm, chạy thử bảo đảm yêu cầu kỹ thuật theo thiết kế. Công việc chưa đủ căn cứ thí nghiệm làm khuyết cả hai điều kiện.
Hệ quả là dây chuyền: thiếu căn cứ ở cấp công việc theo Điều 22 → không đủ cơ sở nghiệm thu giai đoạn, bộ phận theo khoản 2 Điều 23 → không đủ điều kiện nghiệm thu hoàn thành theo điểm b, c khoản 1 Điều 24 → rủi ro khi cơ quan chuyên môn kiểm tra công tác nghiệm thu.
Thêm nữa, khoản 3 Điều 4 khẳng định việc nghiệm thu của chủ đầu tư không thay thế và không làm giảm trách nhiệm của nhà thầu. Một chữ ký dễ dãi chỉ làm tăng số người phải chịu trách nhiệm. Xem thêm bài nguyên tắc nghiệm thu công việc xây dựng và hồ sơ liên quan.
Cách ghi lý do từ chối nghiệm thu — mẫu câu thực tế
Theo khoản 3 Điều 22, không đồng ý nghiệm thu thì phải thông báo lý do bằng văn bản cho nhà thầu trong thời hạn 24 giờ nêu trên. Thông báo dùng được cần đủ năm thành phần: đối tượng cụ thể; căn cứ pháp lý và kỹ thuật; tài liệu còn thiếu; yêu cầu đối với nhà thầu; điều kiện và thời điểm nghiệm thu lại.
Mẫu 1 — thiếu chỉ tiêu đánh giá: “Căn cứ khoản 2 Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP và kế hoạch thí nghiệm được chấp thuận ngày …, đối tượng nghiệm thu [tên công việc, trục, cao độ] phải được đánh giá theo [chỉ tiêu] tại [tiêu chuẩn/chỉ dẫn kỹ thuật]. Hồ sơ trình ngày … chưa có kết quả nêu trên; bộ phận giám sát chưa đủ căn cứ đánh giá và không chấp nhận nghiệm thu. Đề nghị nhà thầu thí nghiệm theo kế hoạch, trình lại kèm kết quả hợp lệ; trong thời gian chờ không triển khai công việc làm che khuất đối tượng.”
Mẫu 2 — chờ phiếu phát hành: “Bộ phận giám sát xác nhận đã chứng kiến lấy mẫu ngày … theo biên bản số …, phù hợp khoản 4 Điều 6 Nghị định 207/2026/NĐ-CP; phiếu kết quả chính thức chưa được phát hành. Theo khoản 3 Điều 22, bộ phận giám sát thông báo chưa thực hiện nghiệm thu; sẽ nghiệm thu ngay khi nhà thầu trình phiếu chính thức, dự kiến ngày … Biên bản ghi đúng ngày nghiệm thu thực tế.”
Mẫu 3 — kết quả không đạt: “Theo phiếu kết quả số … ngày …, chỉ tiêu [tên] của [đối tượng] đạt [giá trị], không đáp ứng [giá trị thiết kế]. Căn cứ điểm d khoản 4 Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP, bộ phận giám sát không chấp nhận nghiệm thu và không đồng ý triển khai công việc tiếp theo. Đề nghị nhà thầu thực hiện khoản 9 Điều 15: dừng thi công phần việc liên quan và trình phương án khắc phục có ý kiến của nhà thầu thiết kế trước ngày …”
Mẫu 4 — nghi ngờ mẫu, đề xuất đối chứng hoặc kiểm định: “Qua kiểm tra theo điểm i khoản 1 Điều 20 Nghị định 207/2026/NĐ-CP, thời điểm lấy mẫu trên phiếu ngày … không phù hợp nhật ký thi công cùng ngày và việc lấy mẫu không có giám sát chứng kiến theo khoản 4 Điều 6. Bộ phận giám sát chưa chấp nhận kết quả này làm căn cứ nghiệm thu; đề nghị nhà thầu giải trình trước ngày … và kiến nghị chủ đầu tư tổ chức thí nghiệm đối chứng theo điểm b khoản 1 Điều 8; nếu bộ phận công trình đã che khuất, đề nghị kiểm định theo điểm b khoản 2 Điều 8.”
Ba lỗi cần tránh: lý do chung chung kiểu “hồ sơ chưa đầy đủ”; không nêu điều kiện nghiệm thu lại; trả lời quá 24 giờ hoặc chỉ trao đổi miệng.
Hồ sơ cần bổ sung theo từng dạng thiếu sót
Danh mục hồ sơ quản lý chất lượng vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị quy định tại khoản 7 Điều 14, trong đó điểm đ nêu các kết quả thí nghiệm, thử nghiệm, kiểm định.
| Dạng thiếu sót | Hồ sơ cần bổ sung |
|---|---|
| Chưa lấy mẫu, chưa thí nghiệm | Biên bản lấy mẫu có giám sát chứng kiến; phiếu yêu cầu thí nghiệm; phiếu kết quả chính thức |
| Đã thí nghiệm, chưa có phiếu | Phiếu kết quả có chữ ký, dấu của đơn vị thí nghiệm; đối chiếu mã mẫu với biên bản lấy mẫu |
| Thiếu hồ sơ đầu vào của lô vật liệu | Chứng nhận chất lượng của nhà sản xuất; chứng từ xuất xứ; giấy chứng nhận hợp quy (nếu thuộc đối tượng); biên bản nghiệm thu vật liệu theo khoản 6 Điều 14 |
| Nghi ngờ năng lực phòng thí nghiệm | Tài liệu chứng minh điều kiện năng lực; hồ sơ lưu mẫu; nhật ký thí nghiệm |
| Không đủ căn cứ, đã che khuất | Đề cương và báo cáo kết quả thí nghiệm đối chứng hoặc kiểm định theo Điều 8; ý kiến nhà thầu thiết kế |
| Kết quả không đạt | Phương án khắc phục có ý kiến thiết kế; hồ sơ nghiệm thu khắc phục; kết quả thí nghiệm sau khắc phục; lưu cả kết quả không đạt ban đầu |
Cần phân biệt hồ sơ vật liệu đầu vào theo Điều 14 với hồ sơ nghiệm thu công việc theo Điều 22 — hai lớp khác nhau dù cùng chứa kết quả thí nghiệm. Xem bài kiểm soát vật liệu đầu vào trong thi công.
Trách nhiệm tiến độ khi phải chờ kết quả
Lập luận thường gặp nhất để ép ký biên bản là “chờ kết quả thì vỡ tiến độ”. Cần tách bạch hai nghĩa vụ — căn cứ nghiệm thu và tiến độ; không được đánh đổi cái thứ nhất để giải quyết cái thứ hai.
Thời gian có kết quả thí nghiệm là dữ kiện biết trước: tuổi mẫu, thời gian gửi mẫu, thời gian phát hành phiếu đều xác định được khi lập kế hoạch, nên phải nằm trong tiến độ thi công trình chủ đầu tư chấp thuận theo điểm a và điểm c khoản 3 Điều 15.
| Nguyên nhân chậm | Bên chịu trách nhiệm chính | Căn cứ |
|---|---|---|
| Lấy mẫu, gửi mẫu muộn so với kế hoạch | Nhà thầu thi công xây dựng | Khoản 3 Điều 6; khoản 10 Điều 15 |
| Tiến độ không dự trù thời gian có kết quả | Nhà thầu lập tiến độ; chủ đầu tư khi chấp thuận | Điểm a, c khoản 3 Điều 15; khoản 4 Điều 16 |
| Giám sát chậm phản hồi quá 24 giờ | Nhà thầu giám sát / chủ đầu tư | Khoản 3 Điều 22 |
| Phòng thí nghiệm phát hành phiếu chậm | Bên ký hợp đồng với phòng thí nghiệm | Hợp đồng; khoản 2 Điều 6 |
| Phải kiểm định do nghi ngờ có cơ sở | Phân định theo kết quả kiểm định | Khoản 4 Điều 8 |
Khoản 3 Điều 19 quy định các bên theo dõi, giám sát và điều chỉnh tiến độ khi một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không ảnh hưởng tiến độ tổng thể; khoản 4 Điều 16 giao chủ đầu tư kiểm tra, chấp thuận và điều chỉnh tiến độ khi cần thiết. Công cụ pháp lý để xử lý tình huống chờ kết quả là điều chỉnh tiến độ và tổ chức lại trình tự thi công, không phải hạ chuẩn căn cứ nghiệm thu.
Hai tình huống minh họa
A — Sức ép “ký trước, bổ sung sau”
Nhà thầu đề nghị nghiệm thu công tác nền móng chiều thứ Sáu để kịp mốc thanh toán; hồ sơ thiếu kết quả thí nghiệm của chỉ tiêu vốn được chỉ dẫn kỹ thuật xác định là điều kiện chuyển bước, và đề xuất ký trước rồi đầu tuần bổ sung phiếu.
Xử lý đúng: thông báo bằng văn bản trong 24 giờ theo khoản 3 Điều 22, nêu rõ chỉ tiêu còn thiếu và điều kiện nghiệm thu lại. Nếu ký trước, hai rủi ro đến cùng lúc: biên bản mâu thuẫn ngày tháng với phiếu kết quả, vi phạm khoản 8 Điều 15; và nếu phiếu phát hành sau cho kết quả không đạt, người ký đã xác nhận chất lượng cho một đối tượng không đạt, trong khi khoản 1 Điều 22 buộc chính người ký chịu trách nhiệm.
B — Hồ sơ thất lạc sau khi công việc đã bị che khuất
Chuẩn bị nghiệm thu hoàn thành, rà soát phát hiện kết quả thí nghiệm của một bộ phận kết cấu đã che khuất không còn lưu được.
Cách xử lý sai và rất phổ biến là đề nghị chủ đầu tư “nghiệm thu có điều kiện” theo khoản 3 Điều 24 với ghi chú “bổ sung hồ sơ sau” — không hợp lệ, vì khuyết hồ sơ nằm ở chính điều kiện tiên quyết tại điểm b, c khoản 1 Điều 24. Cách đúng là áp dụng điểm b khoản 2 Điều 8: chủ đầu tư tổ chức kiểm định xây dựng vì “không đủ các căn cứ để đánh giá chất lượng, nghiệm thu”; kết quả kiểm định trở thành căn cứ thay thế, chi phí phân định theo lỗi.
Xem thêm bài vai trò của tư vấn giám sát trong kiểm soát chất lượng công trình — cũng là nội dung trong chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ giám sát thi công tại Viện.
Checklist trước khi ký hoặc từ chối biên bản
- Ghi rõ đối tượng nghiệm thu: tên công việc, vị trí, trục, cao độ, hạng mục.
- Đối chiếu kế hoạch thí nghiệm đã chấp thuận để xác định phép thử là chỉ tiêu đánh giá.
- Kiểm tra kết quả thí nghiệm, quan trắc có liên quan đến đối tượng nghiệm thu (khoản 2 Điều 22).
- Đối chiếu ngày lấy mẫu, ngày phát hành phiếu với nhật ký thi công.
- Xác nhận lấy mẫu được giám sát (khoản 4 Điều 6), phòng thí nghiệm đủ năng lực (khoản 7 Điều 15).
- Nếu không chấp nhận: thông báo bằng văn bản trong 24 giờ, nêu đủ lý do và điều kiện nghiệm thu lại.
- Biên bản đủ nội dung khoản 4 và thành phần ký khoản 5 Điều 22; phiếu kết quả đưa vào phụ lục.
- Không dùng khoản 3 Điều 24 để kết luận cho một công việc xây dựng.
- Kết quả không đạt được lưu đầy đủ, kèm phương án và kết quả khắc phục.
Kết luận
Thiếu kết quả thí nghiệm không tự động đồng nghĩa với không được nghiệm thu, nhưng cũng không bao giờ là lý do để nghiệm thu cho xong rồi hoàn thiện hồ sơ sau. Ranh giới nằm ở một câu hỏi: kết quả còn thiếu đó có phải là căn cứ đánh giá chính đối tượng đang nghiệm thu hay không, theo khoản 2 Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP. Nếu có thì không đủ căn cứ để kết luận — Nghị định đã mở sẵn lối xử lý tại Điều 8. Nếu không, đó là tồn tại hồ sơ cần bổ sung riêng. Nghiệm thu có điều kiện tại khoản 3 Điều 24 chỉ áp dụng cho hạng mục công trình, công trình xây dựng.
Khi áp dụng cho dự án cụ thể cần xem xét đồng thời hồ sơ thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, kế hoạch thí nghiệm đã chấp thuận và hợp đồng xây dựng. Cách sắp xếp tài liệu chứng minh chất lượng có trong bài hồ sơ quản lý chất lượng công trình xây dựng.
Văn bản sử dụng trong bài
Nghị định 207/2026/NĐ-CP (ban hành 15/6/2026, hiệu lực 01/7/2026): khoản 3 Điều 4; Điều 6 (khoản 2, 3, 4, 5); Điều 8 (điểm b khoản 1; điểm b khoản 2; khoản 4); Điều 14 (khoản 6; điểm đ khoản 7); Điều 15 (điểm a, c khoản 3; khoản 7, 8, 9, 10); Điều 16 (khoản 4, 9); khoản 3 Điều 19; khoản 1 Điều 20 (điểm b, h, i, k); Điều 22 (khoản 1, 2, 3; điểm d, e khoản 4; khoản 5); khoản 2 Điều 23; Điều 24 (điểm b, c khoản 1; khoản 3); Điều 52 — Nghị định 06/2021/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung đã hết hiệu lực từ 01/7/2026.
Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 — văn bản được Nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định chi tiết.
Thông tư 32/2026/TT-BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dựng — viện dẫn ở phạm vi lập và điều chỉnh kế hoạch tổ chức thí nghiệm theo khoản 5 Điều 6 Nghị định 207/2026/NĐ-CP.
