Một gói thầu nhà xưởng ba tầng, biện pháp thi công đã được chủ đầu tư chấp thuận từ trước khi khởi công. Trong tập hồ sơ dày hơn hai trăm trang ấy, phần an toàn vỏn vẹn bốn trang: một đoạn cam kết chung chung, một danh sách trang bị bảo hộ, một sơ đồ thoát hiểm sao chép từ dự án khác. Không ai đọc kỹ, vì công trường vẫn chạy bình thường.
Đến tháng thứ năm, một tấm ván sàn giàn giáo bung ra ở cao độ +9,6 m. May mắn không có người bên dưới. Nhưng khi đoàn kiểm tra yêu cầu xuất trình biện pháp bảo đảm an toàn đã được chấp thuận, mọi thứ mới lộ ra: không có phần nhận diện yếu tố nguy hiểm cho công tác lắp dựng giàn giáo, không xác định vùng nguy hiểm bên dưới khu vực làm việc trên cao, không có quy trình kiểm tra giàn giáo trước ca, và người ký phần an toàn trong hồ sơ là một kỹ sư đã rời công trường từ ba tháng trước.
Tình huống này không hiếm. Nó xảy ra vì nhiều nhà thầu vẫn coi phần an toàn là “phụ lục hình thức” của biện pháp thi công, trong khi Nghị định 207/2026/NĐ-CP đặt nó thành một tài liệu có cấu trúc nội dung riêng, có người lập, có người chấp thuận và có nghĩa vụ rà soát định kỳ. Bài viết này hệ thống lại toàn bộ yêu cầu về biện pháp bảo đảm an toàn trong thi công xây dựng theo Phụ lục III Nghị định 207/2026/NĐ-CP, gắn với trách nhiệm cụ thể tại Điều 15 của chính Nghị định này.
1. Biện pháp bảo đảm an toàn là gì và nằm ở đâu trong hồ sơ thi công
Phụ lục III Nghị định 207/2026/NĐ-CP gọi tài liệu này bằng tên đầy đủ là “Biện pháp bảo đảm an toàn trong thi công xây dựng công trình”, và trong toàn bộ phụ lục viết tắt là “Biện pháp”. Đây là cách gọi có ý nghĩa: nó cho thấy văn bản này được nhìn nhận như một chỉnh thể, không phải một chương phụ nằm rải rác trong hồ sơ kỹ thuật.
Về vị trí trong hệ thống hồ sơ, Biện pháp thuộc nhóm tài liệu nhà thầu thi công lập và trình chủ đầu tư chấp thuận trước khi tổ chức thi công. Cụ thể, điểm b khoản 3 Điều 15 Nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định nhà thầu thi công xây dựng lập, trình chủ đầu tư chấp thuận “biện pháp thi công, trong đó quy định cụ thể biện pháp bảo đảm an toàn trong thi công xây dựng công trình”.
Hai chữ “quy định cụ thể” là điểm cần chú ý. Quy phạm không yêu cầu nhà thầu nhắc đến an toàn, mà yêu cầu quy định cụ thể biện pháp bảo đảm an toàn ngay trong biện pháp thi công. Một đoạn cam kết “nhà thầu tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về an toàn lao động” không đáp ứng yêu cầu này, vì nó không quy định gì cả — nó chỉ hứa.
Cách đọc đúng là: Biện pháp phải bám sát chính biện pháp thi công đã chọn. Nếu biện pháp thi công dùng cốp pha leo, phần an toàn phải nói về cốp pha leo. Nếu thi công tầng hầm bằng phương pháp top-down, phần an toàn phải nói về làm việc trong không gian hạn chế, thông gió, chống đỡ tạm. Đây là điều Phụ lục III nêu rõ tại mục 6: Biện pháp phải được lập phù hợp với quy mô, đặc điểm của công trình và công trường; phù hợp với biện pháp thi công và biện pháp kỹ thuật an toàn riêng được áp dụng; phù hợp với đặc điểm công việc, nhiệm vụ mà người lao động phải thực hiện.
Ba tiêu chí “phù hợp” này chính là thước đo để chủ đầu tư đánh giá hồ sơ. Một Biện pháp sao chép từ dự án khác gần như luôn trượt cả ba, vì quy mô khác, biện pháp thi công khác và công việc của người lao động cũng khác.
2. Lập chung trong biện pháp thi công hay lập riêng thành tài liệu độc lập?
Đây là câu hỏi thực tế đầu tiên khi lập hồ sơ, và Nghị định 207 trả lời rõ ràng ở phần sau của chính điểm b khoản 3 Điều 15.
Trường hợp thông thường — lập chung. Mặc định, biện pháp bảo đảm an toàn là một phần cấu thành của biện pháp thi công. Phụ lục III cũng mở đầu bằng câu: Biện pháp “được lập cùng với biện pháp thi công”. Nhà thầu trình một bộ hồ sơ, chủ đầu tư chấp thuận một lần, phần an toàn nằm trong đó nhưng phải đủ các nhóm nội dung mà Phụ lục III liệt kê.
Trường hợp đặc thù — có thể lập riêng. Điểm b khoản 3 Điều 15 quy định: trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 50 và khoản 3 Điều 51 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, nhà thầu thi công có thể lập riêng biện pháp bảo đảm an toàn trong thi công xây dựng công trình và trình chủ đầu tư chấp thuận trước khi tổ chức thi công xây dựng.
Cần lưu ý ba điều khi vận dụng quy định này:
- Đây là quyền lựa chọn, không phải nghĩa vụ tuyệt đối. Văn bản dùng chữ “có thể lập riêng”. Nhà thầu thuộc trường hợp đó vẫn có thể giữ phần an toàn trong biện pháp thi công, miễn là nội dung đầy đủ.
- Phạm vi các trường hợp được xác định bởi Luật Xây dựng, không phải bởi Nghị định 207. Muốn biết dự án của mình có thuộc khoản 3 Điều 50 hay khoản 3 Điều 51 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 hay không, phải đối chiếu trực tiếp với hai điều khoản đó của Luật. Không nên suy đoán từ quy mô hay cấp công trình.
- Lập riêng không có nghĩa là chấp thuận sau. Dù tách thành tài liệu độc lập, mốc thời gian vẫn là “trước khi tổ chức thi công xây dựng”. Việc tách hồ sơ không tạo thêm thời gian cho nhà thầu.
Trên thực tế, việc lập riêng có lợi thế quản lý rõ rệt với các công trường phức tạp: tài liệu độc lập dễ phát hành cho tổ đội, dễ cập nhật khi chuyển giai đoạn thi công, và khi cơ quan kiểm tra yêu cầu xuất trình thì không phải lật giữa hàng trăm trang hồ sơ kỹ thuật. Ngược lại, với công trình nhỏ, tách riêng đôi khi gây trùng lặp nội dung và khó kiểm soát phiên bản.
3. Ai lập, ai chấp thuận và chấp thuận vào thời điểm nào
Chuỗi trách nhiệm ở đây rất gọn, nhưng hay bị hiểu sai trong thực tế:
- Người lập: nhà thầu thi công xây dựng. Khoản 3 Điều 15 Nghị định 207/2026/NĐ-CP đặt nghĩa vụ “lập, trình chủ đầu tư chấp thuận” lên nhà thầu thi công. Tư vấn giám sát không lập thay, chủ đầu tư cũng không lập thay.
- Người chấp thuận: chủ đầu tư. Đây là hành vi “chấp thuận” của chủ đầu tư đối với tài liệu do nhà thầu lập, không phải “phê duyệt thiết kế”.
- Thời điểm: trước khi tổ chức thi công xây dựng. Với trường hợp lập riêng, điểm b khoản 3 Điều 15 ghi thẳng mốc này. Với trường hợp lập chung, mốc đi theo biện pháp thi công — cũng là trước khi triển khai công việc tương ứng.
Một điểm hay bị bỏ qua: việc chủ đầu tư chấp thuận Biện pháp không chuyển trách nhiệm an toàn sang chủ đầu tư. Khoản 5 Điều 15 Nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định nhà thầu “tổ chức thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn trong thi công xây dựng đối với phần việc do mình thực hiện”. Tài liệu được chấp thuận là điều kiện để bắt đầu, không phải là tấm khiên miễn trừ khi thi công sai chính tài liệu đó.
Với công trường có nhà thầu phụ, cần xác định rõ trong hồ sơ ranh giới phần việc và phần trách nhiệm an toàn tương ứng. Vấn đề phân định trách nhiệm giữa các chủ thể được phân tích kỹ hơn trong bài tổng quan Nghị định 207/2026/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình.
4. Khi nào phải rà soát, điều chỉnh Biện pháp
Biện pháp không phải tài liệu lập một lần rồi cất tủ. Phụ lục III đặt yêu cầu rà soát ngay trong phần “Biện pháp tổ chức thực hiện” tại mục 2: nhà thầu phải nêu rõ việc triển khai, giám sát việc thực hiện Biện pháp và việc kiểm tra, rà soát Biện pháp định kỳ, đột xuất để điều chỉnh cho phù hợp với thực tế thi công trên công trường.
Nghĩa vụ này được lặp lại ở góc độ con người tại điểm a khoản 18 Điều 15: bộ phận hoặc người thực hiện công tác quản lý an toàn của nhà thầu phải “phối hợp với các bên liên quan thường xuyên rà soát biện pháp bảo đảm an toàn trong thi công xây dựng công trình và đề xuất điều chỉnh kịp thời, phù hợp với thực tế thi công xây dựng”.
Như vậy có hai lớp: rà soát định kỳ theo kế hoạch đã ghi trong Biện pháp, và rà soát đột xuất khi thực tế thay đổi. Những mốc đột xuất thường gặp trên công trường gồm: chuyển giai đoạn thi công (từ phần ngầm lên phần thân, từ kết cấu sang hoàn thiện); thay đổi biện pháp thi công hoặc thiết bị chính; xuất hiện công việc mới có yếu tố nguy hiểm chưa được nhận diện; sau mỗi vụ tai nạn hoặc sự cố mất an toàn; khi có nhà thầu phụ mới vào công trường; khi điều kiện lân cận thay đổi, ví dụ công trình liền kề bắt đầu thi công hoặc xuất hiện dấu hiệu lún nứt.
Điều quan trọng về mặt hồ sơ: mỗi lần điều chỉnh phải để lại dấu vết. Bản điều chỉnh cần ghi rõ lý do, phạm vi thay đổi, ngày hiệu lực và được trình chủ đầu tư chấp thuận theo đúng cơ chế ban đầu. Một Biện pháp có ba phiên bản với lịch sử rõ ràng đáng tin hơn nhiều so với một bản duy nhất không đổi suốt hai năm thi công.
5. Các nhóm nội dung bắt buộc theo Phụ lục III
Phụ lục III Nghị định 207/2026/NĐ-CP liệt kê 11 nhóm nội dung chính của Biện pháp. Bảng dưới đây tóm tắt yêu cầu của từng nhóm và tài liệu thường dùng để thể hiện nhóm nội dung đó trong hồ sơ.
| Nhóm nội dung (Phụ lục III) | Yêu cầu cụ thể | Tài liệu, hồ sơ thể hiện |
|---|---|---|
| 1. Thông tin chung dự án, công trình | Tên dự án, công trình; loại và cấp công trình; vị trí xây dựng; quy mô, đặc điểm công trình và công trường; thông tin nhà thầu chính và nhà thầu phụ (nếu có); tiến độ thi công | Trang thông tin đầu Biện pháp; bản đồ vị trí; danh sách nhà thầu; tiến độ đã được chấp thuận |
| 2. Căn cứ lập và biện pháp tổ chức thực hiện | Căn cứ: quy định pháp luật liên quan, danh mục quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn an toàn áp dụng, nội dung khác theo hợp đồng. Tổ chức thực hiện: bố trí đủ nhân lực, thiết bị, phương tiện; triển khai và giám sát thực hiện; kiểm tra, rà soát định kỳ và đột xuất để điều chỉnh | Danh mục QCVN, TCVN áp dụng; kế hoạch huy động nguồn lực; kế hoạch kiểm tra và rà soát Biện pháp |
| 3. Sơ đồ tổ chức và trách nhiệm | Sơ đồ tổ chức và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân đối với công tác quản lý an toàn, nằm trong hệ thống quản lý thi công của nhà thầu, theo khoản 2, khoản 5 và khoản 18 Điều 15 | Sơ đồ tổ chức công trường; quyết định bổ nhiệm chỉ huy trưởng; quyết định giao nhiệm vụ quản lý an toàn; bảng phân công trách nhiệm |
| 4. Nội quy, quy trình làm việc an toàn | Nội quy công trường và quy trình làm việc an toàn tại công trường xây dựng | Nội quy công trường được ban hành; bộ quy trình làm việc an toàn theo từng công tác |
| 5. Tuyên truyền, huấn luyện an toàn lao động | Tổ chức tuyên truyền, huấn luyện an toàn lao động cho cá nhân tham gia thi công tại công trường theo pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động | Kế hoạch huấn luyện; danh sách và kết quả huấn luyện; hồ sơ phổ biến an toàn đầu ca; biển báo, pa-nô tuyên truyền |
| 6. Các biện pháp bảo đảm an toàn | Nhóm nội dung lớn nhất, gồm 9 mục từ điểm a đến điểm i (phân tích ở phần dưới), phải phù hợp với quy mô công trình, biện pháp thi công và đặc điểm công việc của người lao động | Thuyết minh biện pháp theo từng công tác; bản vẽ biện pháp; sơ đồ vùng nguy hiểm; danh mục thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt |
| 7. Bảo vệ môi trường trong thi công | Theo báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được thẩm định hoặc giấy phép môi trường, đăng ký bảo vệ môi trường (nếu có) và pháp luật về bảo vệ môi trường | Trích yêu cầu từ hồ sơ môi trường của dự án; phương án quản lý chất thải, bụi, tiếng ồn, nước thải công trường |
| 8. Phòng cháy trong quá trình thi công | Biện pháp phòng cháy đối với công trình xây dựng trong quá trình thi công theo pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ | Phương án phòng cháy giai đoạn thi công; sơ đồ bố trí phương tiện chữa cháy; quy định hàn cắt và nguồn lửa, nguồn nhiệt |
| 9. Quản lý sức khỏe người lao động và môi trường lao động | Hệ thống quản lý sức khỏe, vệ sinh lao động, quan trắc môi trường lao động và các hệ thống liên quan | Hồ sơ khám sức khỏe; kế hoạch quan trắc môi trường lao động; hồ sơ vệ sinh lao động |
| 10. Ứng phó tình huống khẩn cấp | Mạng lưới thông tin liên lạc; phương án xử lý; diễn tập; quy định về nhân lực, vật lực, trang thiết bị và quy trình ứng phó với sự cố, tình huống khẩn cấp có thể xảy ra | Phương án ứng cứu khẩn cấp; danh bạ liên lạc khẩn; kế hoạch và biên bản diễn tập; danh mục thiết bị cứu hộ |
| 11. Phụ lục, biểu mẫu, hình ảnh kèm theo | Các phụ lục, biểu mẫu, hình ảnh kèm theo để thực hiện | Biểu mẫu kiểm tra giàn giáo, giấy phép làm việc; hình ảnh minh họa biện pháp; mẫu biên bản họp an toàn |
Đọc bảng này theo chiều dọc sẽ thấy một logic: nhóm 1–2 xác lập bối cảnh và cơ sở pháp lý, nhóm 3 xác lập con người, nhóm 4–5 xác lập quy tắc và năng lực, nhóm 6–9 là phần kỹ thuật lõi, nhóm 10 xử lý tình huống xấu nhất, nhóm 11 là công cụ thực thi hằng ngày. Thiếu nhóm nào thì chuỗi đó đứt ở đúng chỗ đó.
6. Nhận diện yếu tố nguy hiểm và xác định vùng nguy hiểm
Trong nhóm nội dung số 6, điểm a là phần thường bị làm sơ sài nhất nhưng lại quan trọng nhất. Phụ lục III yêu cầu Biện pháp phải có “các biện pháp bảo đảm an toàn chung tại công trường xây dựng và khu vực lân cận”, trong đó bao gồm việc nhận diện các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại, xác định các vùng nguy hiểm, vùng nguy hại trên công trường và khu vực lân cận công trường.
Hai chi tiết cần nhấn mạnh trong câu quy phạm này:
Thứ nhất, phạm vi không dừng ở hàng rào công trường. Quy định nhắc “khu vực lân cận” hai lần. Nghĩa là khi thi công ép cọc cạnh nhà dân, khi cẩu tháp có vùng quét vươn qua ranh giới, khi đào sâu sát công trình liền kề, phần lân cận phải được nhận diện và thể hiện trong Biện pháp — không phải xử lý sau khi hàng xóm khiếu nại. Với các công trình liền kề có nguy cơ chuyển vị, nội dung này cần kết nối với công tác theo dõi và ứng xử được trình bày trong bài xử lý công trình lún, nứt, nghiêng trong thi công.
Thứ hai, “vùng nguy hiểm” là một nghĩa vụ độc lập. Khoản 4 Điều 15 Nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định nhà thầu thi công có trách nhiệm “xác định vùng nguy hiểm trong thi công xây dựng công trình và thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15”. Đây là điều khoản riêng, không nằm chung với khoản 3 về lập hồ sơ. Nói cách khác, xác định vùng nguy hiểm vừa là một nội dung của Biện pháp, vừa là một nghĩa vụ triển khai ngoài hiện trường. Các yêu cầu cụ thể phải thực hiện đối với vùng nguy hiểm được dẫn chiếu sang khoản 3 Điều 51 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, cần đối chiếu trực tiếp điều khoản đó của Luật khi lập hồ sơ.
Về mặt trình bày, phần này nên có sản phẩm nhìn thấy được: bảng nhận diện yếu tố nguy hiểm theo từng công tác, và sơ đồ mặt bằng thể hiện vùng nguy hiểm theo từng giai đoạn thi công. Vùng nguy hiểm khi thi công phần ngầm khác hoàn toàn vùng nguy hiểm khi lắp dựng kết cấu thép ở cao độ lớn — một sơ đồ dùng chung cho cả dự án là dấu hiệu hồ sơ chưa được lập nghiêm túc.
7. Nhân sự quản lý an toàn và yêu cầu về đào tạo
Nhóm nội dung số 3 của Phụ lục III yêu cầu Biện pháp thể hiện sơ đồ tổ chức và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân đối với công tác quản lý an toàn, và dẫn chiếu thẳng tới ba khoản của Điều 15: khoản 2, khoản 5 và khoản 18.
Khoản 2 Điều 15 quy định nhà thầu lập và thông báo cho chủ đầu tư về hệ thống quản lý thi công xây dựng của mình, trong đó nêu rõ sơ đồ tổ chức và trách nhiệm của từng cá nhân, bao gồm chỉ huy trưởng công trường hoặc giám đốc dự án của nhà thầu, các cá nhân phụ trách kỹ thuật thi công trực tiếp và thực hiện công tác quản lý chất lượng, an toàn trong thi công xây dựng, quản lý khối lượng, tiến độ, hồ sơ thi công. Như vậy sơ đồ an toàn không phải một sơ đồ tách rời — nó là một nhánh trong hệ thống quản lý thi công đã thông báo cho chủ đầu tư. Hai sơ đồ mâu thuẫn nhau là lỗi hồ sơ.
Khoản 5 Điều 15 đặt ra điều kiện về con người: nhà thầu bố trí nhân lực, thiết bị thi công theo hợp đồng và quy định pháp luật liên quan; tổ chức thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn đối với phần việc do mình thực hiện; và người thực hiện công tác quản lý an toàn trong thi công xây dựng công trình của nhà thầu phải được đào tạo về chuyên ngành an toàn lao động hoặc chuyên ngành kỹ thuật xây dựng và đáp ứng quy định khác của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Đây là yêu cầu kép, hay bị hiểu thiếu một vế:
- Vế chuyên ngành đào tạo: an toàn lao động hoặc kỹ thuật xây dựng. Nghị định dùng chữ “hoặc”, nên một kỹ sư xây dựng được giao nhiệm vụ quản lý an toàn là phù hợp về chuyên ngành.
- Vế pháp luật an toàn, vệ sinh lao động: ngoài chuyên ngành, người đó còn phải đáp ứng các quy định khác của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Nội dung cụ thể của các quy định này thuộc pháp luật chuyên ngành an toàn, vệ sinh lao động, cần đối chiếu trực tiếp văn bản tương ứng khi bố trí nhân sự.
Hồ sơ chứng minh cho phần này gồm: quyết định giao nhiệm vụ quản lý an toàn, văn bằng hoặc chứng chỉ đào tạo chuyên ngành, hồ sơ huấn luyện theo pháp luật an toàn vệ sinh lao động. Nếu nhân sự thay đổi giữa chừng, phải cập nhật cả sơ đồ tổ chức lẫn hồ sơ kèm theo — đây chính là lỗi trong tình huống mở đầu bài viết.
8. Nội quy và quy trình làm việc an toàn tại công trường
Nhóm nội dung số 4 của Phụ lục III ngắn gọn: “Nội quy, quy trình làm việc an toàn tại công trường xây dựng”. Nhưng đây là phần chuyển hóa Biện pháp thành hành vi hằng ngày.
Nội quy công trường là bộ quy tắc chung áp dụng cho mọi người có mặt: quy định ra vào, sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân, khu vực cấm, tốc độ xe trong công trường, quy định hút thuốc và sử dụng lửa, xử lý khi có báo động. Quy trình làm việc an toàn thì đi theo từng công tác cụ thể: quy trình lắp dựng và tháo dỡ giàn giáo, quy trình làm việc trên cao, quy trình đào hố sâu và chống vách, quy trình vận hành cẩu, quy trình hàn cắt, quy trình làm việc trong không gian hạn chế.
Nguyên tắc thực dụng khi soạn phần này: mỗi quy trình phải trả lời được ba câu — ai được phép làm, điều kiện nào phải thỏa mãn trước khi bắt đầu, và ai xác nhận. Quy trình không xác định người xác nhận thì trên thực tế không có ai chịu trách nhiệm dừng công việc khi điều kiện chưa đủ.
9. Tuyên truyền và huấn luyện an toàn lao động
Nhóm nội dung số 5 yêu cầu Biện pháp trình bày công tác tổ chức tuyên truyền, huấn luyện về an toàn lao động cho các cá nhân tham gia thi công tại công trường theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Nghị định 207 dẫn chiếu sang pháp luật chuyên ngành cho phần nội dung và phân nhóm huấn luyện, nên khi lập hồ sơ cần đối chiếu quy định về an toàn, vệ sinh lao động để xác định đúng đối tượng và thời hạn.
Phần cần thể hiện rõ trong Biện pháp là cách tổ chức: kế hoạch huấn luyện theo tiến độ huy động nhân lực; cơ chế huấn luyện cho người mới vào công trường trước khi bố trí việc; cơ chế phổ biến an toàn trước mỗi ca hoặc trước mỗi công việc có nguy cơ cao; cách lưu hồ sơ chứng minh đã huấn luyện.
Một chi tiết dễ bỏ sót: nhân sự của nhà thầu phụ và lao động thời vụ cũng là “cá nhân tham gia thi công xây dựng tại công trường”. Khoản 11 Điều 15 Nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định nhà thầu chính có trách nhiệm kiểm tra công tác thi công xây dựng đối với các phần việc do nhà thầu phụ thực hiện, nên việc để một tổ đội thầu phụ vào công trường mà chưa có hồ sơ huấn luyện là rủi ro thuộc về nhà thầu chính, không chỉ thuộc về thầu phụ.
10. Máy, thiết bị thi công và phương tiện bảo vệ cá nhân
Trong nhóm nội dung số 6 của Phụ lục III, ba điểm b, d và đ tạo thành một cụm hoàn chỉnh về thiết bị và bảo hộ.
Điểm b yêu cầu các biện pháp bảo đảm an toàn cho người lao động khi làm việc với phương tiện, dụng cụ, máy, thiết bị thi công cụ thể trên công trường, và liệt kê ví dụ: giàn giáo và thang; kết cấu chống đỡ tạm; các thiết bị nâng; các máy, thiết bị thi công để vận chuyển, đào đất đá, vật liệu, làm đường, thi công cọc và thi công ngầm; các thiết bị, dụng cụ cầm tay và các hệ thống máy, thiết bị phục vụ thi công khác. Chữ “cụ thể” ở đây có nghĩa: viết theo đúng danh mục thiết bị thực tế huy động của gói thầu, không viết theo danh mục lý thuyết.
Điểm c bổ sung góc nhìn theo công việc thay vì theo thiết bị, với các nhóm công tác được nêu ví dụ: làm việc trên cao, trên mặt nước, dưới nước hoặc trong môi trường khí nén; đào, đắp đất đá; thi công cọc; thi công công trình ngầm, đường hầm; thi công bê tông; lắp dựng, tháo dỡ các loại cấu kiện, kết cấu; thi công điện; sử dụng chất nổ; phá dỡ công trình. Cách tổ chức tốt là lập ma trận: hàng là công tác, cột là thiết bị, ô giao nhau dẫn tới quy trình an toàn tương ứng.
Điểm d yêu cầu quy định về quản lý máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Danh mục các đối tượng thuộc diện này và chế độ kiểm định thuộc pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, cần đối chiếu văn bản chuyên ngành tương ứng. Trong Biện pháp, phần này nên thể hiện bằng bảng theo dõi: tên thiết bị, số hiệu, ngày kiểm định, thời hạn, người vận hành và chứng nhận của người vận hành.
Điểm đ yêu cầu các quy định về trang bị, cung cấp, quản lý và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân. Bốn động từ này tương ứng bốn khâu dễ đứt gãy khác nhau: mua đúng chủng loại, phát đến tay người lao động, quản lý tình trạng và thay thế khi hỏng, và giám sát việc thực sự sử dụng. Ràng buộc giám sát nằm ở điểm b khoản 18 Điều 15: người quản lý an toàn phải yêu cầu người lao động sử dụng đúng và đủ dụng cụ, phương tiện bảo vệ cá nhân, kiểm tra giám sát việc tuân thủ và quản lý số lượng người lao động làm việc trên công trường.
Ngoài ra, Phụ lục III còn có điểm e về bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho người lao động tại công trường, điểm g về tổ chức bộ phận y tế theo pháp luật an toàn, vệ sinh lao động, điểm h về các biện pháp ngăn ngừa tai nạn lao động khác có liên quan và điểm i về các biện pháp bảo vệ công trình xây dựng, tài sản, thiết bị, phương tiện. Bốn điểm này thường bị bỏ trắng trong hồ sơ thực tế, dù chúng nằm cùng một mức với các điểm còn lại.
11. Phòng cháy, bảo vệ môi trường và khu vực lân cận
Ba nội dung này được Phụ lục III đặt riêng và đều dẫn chiếu sang pháp luật chuyên ngành, nên cách viết trong Biện pháp phải là “trích dẫn và cụ thể hóa”, không phải “tự đặt ra quy định mới”.
Bảo vệ môi trường (nhóm 7). Phụ lục III yêu cầu các biện pháp bảo vệ môi trường trong thi công theo quy định của báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, hoặc giấy phép môi trường, hoặc đăng ký bảo vệ môi trường (nếu có), và theo pháp luật về bảo vệ môi trường. Nghĩa là điểm khởi đầu không phải là kinh nghiệm của nhà thầu, mà là hồ sơ môi trường cụ thể của dự án. Việc đầu tiên khi soạn phần này là lấy đúng bản hồ sơ môi trường đang có hiệu lực của dự án và trích các cam kết liên quan giai đoạn thi công.
Phòng cháy (nhóm 8). Phụ lục III yêu cầu các biện pháp phòng cháy đối với công trình xây dựng trong quá trình thi công theo quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Cần phân biệt: đây là phòng cháy cho giai đoạn thi công — kho vật liệu dễ cháy, hàn cắt, hệ thống điện tạm, lán trại — chứ không phải hệ thống phòng cháy vĩnh viễn của công trình sau khi hoàn thành. Nội dung chi tiết thuộc pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, cần đối chiếu văn bản chuyên ngành đó.
Khu vực lân cận. Như đã nêu ở phần 6, điểm a nhóm 6 buộc Biện pháp bao quát cả khu vực lân cận công trường. Trên thực tế, đây là nơi phát sinh nhiều tranh chấp nhất: rung động do ép cọc, bụi và tiếng ồn, vật rơi, nước ngầm hạ thấp gây lún công trình liền kề. Hồ sơ tối thiểu nên có: biên bản khảo sát hiện trạng công trình liền kề trước khi thi công kèm ảnh, mốc quan trắc nếu cần, và quy trình xử lý khi có phản ánh. Cách ghi nhận và lưu vết hiện trường cho những tình huống này được trình bày chi tiết hơn trong bài hồ sơ hiện trường chỉ huy trưởng cần kiểm soát trong thi công.
12. Ứng phó với tình huống khẩn cấp
Nhóm nội dung số 10 của Phụ lục III liệt kê khá cụ thể những gì phải có: mạng lưới thông tin liên lạc; các quy định về phương án xử lý, diễn tập; quy định về nhân lực, vật lực, trang thiết bị và quy trình ứng phó với các sự cố, tình huống khẩn cấp có thể xảy ra.
Bốn thành phần đó cần được viết ở mức có thể thực hiện được lúc 2 giờ sáng, khi người trực không phải là người soạn hồ sơ:
- Mạng lưới thông tin liên lạc: danh bạ khẩn cấp có tên, chức danh, số điện thoại, thứ tự gọi; ai gọi cấp cứu, ai báo chủ đầu tư, ai báo cơ quan chức năng.
- Phương án xử lý: theo từng kịch bản nhận diện được — ngã cao, sập kết cấu chống đỡ tạm, điện giật, cháy, ngạt trong không gian hạn chế, ngập nước hố đào.
- Nhân lực, vật lực, trang thiết bị: đội ứng cứu tại chỗ, vị trí tủ sơ cứu, bình chữa cháy, thiết bị cứu hộ, đường tiếp cận cho xe cứu thương.
- Diễn tập: có kế hoạch, có biên bản, có rút kinh nghiệm. Diễn tập không được ghi nhận thì về mặt hồ sơ coi như chưa diễn ra.
Trách nhiệm của người quản lý an toàn trong tình huống này được ghi tại điểm d khoản 18 Điều 15: tham gia ứng cứu, khắc phục tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động.
13. Quyền tạm dừng công việc không an toàn
Đây là nội dung có sức nặng thực tế lớn nhất của Điều 15, và nên được viết thẳng vào Biện pháp thay vì để mặc định.
Ở cấp nhà thầu — khoản 9 Điều 15 quy định nhà thầu thi công phải dừng thi công xây dựng khi phát hiện nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động, và có biện pháp khắc phục để bảo đảm an toàn trước khi tiếp tục thi công; đồng thời khắc phục hậu quả tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động xảy ra trong quá trình thi công. Cùng khoản này còn quy định dừng thi công khi phát hiện sai sót, khiếm khuyết về chất lượng hoặc xảy ra sự cố công trình.
Ở cấp người quản lý an toàn — điểm c khoản 18 Điều 15 trao thẩm quyền cụ thể hơn. Khi phát hiện vi phạm quy định về quản lý an toàn hoặc nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động, bộ phận hoặc người quản lý an toàn phải có biện pháp xử lý, chấn chỉnh kịp thời; quyết định việc tạm dừng thi công xây dựng đối với công việc có nguy cơ; đình chỉ tham gia lao động đối với người lao động không tuân thủ biện pháp kỹ thuật an toàn hoặc vi phạm quy định về sử dụng dụng cụ, phương tiện bảo vệ cá nhân; và báo cáo cho chỉ huy trưởng công trường hoặc giám đốc dự án.
Ba hệ quả quản trị cần rút ra:
- Quyền tạm dừng không phải quyền đề xuất. Văn bản dùng chữ “quyết định”. Nếu quy chế nội bộ của nhà thầu bắt người quản lý an toàn phải xin ý kiến trước khi dừng, quy chế đó đang thu hẹp thẩm quyền mà Nghị định đã trao.
- Phạm vi tạm dừng là “công việc có nguy cơ”, không nhất thiết là toàn công trường. Đây là công cụ có tính điểm, dùng được mà không làm đổ tiến độ tổng.
- Sau khi dừng phải có báo cáo lên chỉ huy trưởng hoặc giám đốc dự án, và phải có biện pháp khắc phục trước khi tiếp tục. Toàn bộ chuỗi này nên để lại vết trong nhật ký thi công và biên bản hiện trường.
14. Chi phí về an toàn phải dùng đúng mục đích
Khoản 12 Điều 15 Nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định gọn một câu: nhà thầu thi công xây dựng “sử dụng chi phí về an toàn trong thi công xây dựng công trình đúng mục đích”. Câu ngắn nhưng có hiệu lực ràng buộc riêng.
Trong thực tế, chi phí an toàn thường bị coi là khoản co giãn: khi tiến độ căng hoặc giá vật liệu tăng, nó là mục bị cắt đầu tiên. Rủi ro không chỉ nằm ở tai nạn, mà còn ở khâu quyết toán và thanh tra — khi hồ sơ cho thấy khoản mục an toàn đã được tính trong giá hợp đồng nhưng không có chứng từ chứng minh đã chi cho đúng nội dung đó.
Cách kiểm soát đơn giản: mở một mục theo dõi riêng cho chi phí an toàn, đối chiếu với danh mục biện pháp đã cam kết trong Biện pháp được chấp thuận, và lưu chứng từ theo từng nhóm — phương tiện bảo vệ cá nhân, kiểm định thiết bị, huấn luyện, biển báo và rào chắn, thiết bị cứu hộ, chi phí cho bộ phận y tế.
15. Checklist rà soát Biện pháp trước mỗi giai đoạn thi công
Bảng dưới đây dùng cho cuộc rà soát trước khi chuyển giai đoạn thi công hoặc khi có thay đổi lớn trên công trường. Mỗi dòng đều truy được về một căn cứ trong Nghị định 207/2026/NĐ-CP.
| Nội dung rà soát | Căn cứ / bằng chứng cần có |
|---|---|
| Biện pháp cho giai đoạn sắp thi công đã được chủ đầu tư chấp thuận chưa | Văn bản chấp thuận của chủ đầu tư (điểm b khoản 3 Điều 15) |
| Biện pháp có phù hợp với biện pháp thi công thực tế áp dụng cho giai đoạn này không | Đối chiếu Biện pháp với biện pháp thi công đã chấp thuận (mục 6 Phụ lục III) |
| Yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại của các công tác mới đã được nhận diện chưa | Bảng nhận diện cập nhật (điểm a mục 6 Phụ lục III) |
| Vùng nguy hiểm đã được xác định lại cho giai đoạn mới, gồm cả khu vực lân cận | Sơ đồ vùng nguy hiểm theo giai đoạn (khoản 4 Điều 15) |
| Sơ đồ tổ chức và người quản lý an toàn còn đúng thực tế không | Quyết định giao nhiệm vụ, hồ sơ đào tạo chuyên ngành (khoản 2, khoản 5, khoản 18 Điều 15) |
| Nhân sự mới và nhà thầu phụ mới đã được huấn luyện chưa | Danh sách và hồ sơ huấn luyện (mục 5 Phụ lục III; khoản 11 Điều 15) |
| Máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn còn hạn kiểm định không | Bảng theo dõi kiểm định thiết bị (điểm d mục 6 Phụ lục III) |
| Phương tiện bảo vệ cá nhân đủ chủng loại, còn sử dụng được không | Sổ cấp phát, biên bản kiểm tra (điểm đ mục 6 Phụ lục III) |
| Phương án phòng cháy và biện pháp bảo vệ môi trường có còn phù hợp mặt bằng mới | Hồ sơ môi trường của dự án; quy định về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (mục 7, mục 8 Phụ lục III) |
| Phương án ứng cứu khẩn cấp, danh bạ liên lạc đã cập nhật chưa | Phương án, biên bản diễn tập (mục 10 Phụ lục III; điểm d khoản 18 Điều 15) |
| Các lần tạm dừng thi công vì lý do an toàn đã được ghi nhận và khắc phục xong chưa | Nhật ký thi công, biên bản hiện trường (khoản 9 và điểm c khoản 18 Điều 15) |
| Chi phí an toàn có chứng từ chi đúng nội dung đã cam kết không | Bảng theo dõi chi phí an toàn (khoản 12 Điều 15) |
Kết luận
Điểm thay đổi trong nhận thức mà Nghị định 207/2026/NĐ-CP đòi hỏi không nằm ở việc thêm thủ tục, mà ở chỗ biện pháp bảo đảm an toàn được cấp cho một cấu trúc nội dung xác định. Khi Phụ lục III đã liệt kê 11 nhóm nội dung, câu hỏi “hồ sơ an toàn thế nào là đủ” không còn phụ thuộc vào cảm tính của người kiểm tra — nó trở thành một phép đối chiếu.
Ba việc nên làm ngay với các gói thầu đang triển khai: rà lại Biện pháp hiện có theo bảng 11 nhóm nội dung ở phần 5 và đánh dấu những nhóm còn trống; kiểm tra hồ sơ của người đang thực hiện công tác quản lý an toàn theo yêu cầu tại khoản 5 Điều 15; và quy định rõ bằng văn bản nội bộ về quyền quyết định tạm dừng thi công theo điểm c khoản 18 Điều 15 để quyền này không bị vô hiệu hóa bởi quy trình xin ý kiến. Cách gắn các nội dung an toàn vào hệ thống kiểm soát chung của gói thầu được trình bày trong bài các điểm kiểm soát quan trọng trong quản lý chất lượng thi công.
Mỗi dự án có quy mô, biện pháp thi công và điều kiện mặt bằng khác nhau, nên nội dung cụ thể của Biện pháp phải được xây dựng trên hồ sơ thực tế của gói thầu và đối chiếu với hợp đồng xây dựng đã ký, không thể áp dụng một mẫu chung.
Văn bản sử dụng trong bài
- Nghị định 207/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng (hiệu lực từ 01/7/2026) — Điều 15: khoản 2; khoản 3 (điểm b); khoản 4; khoản 5; khoản 9; khoản 11; khoản 12; khoản 18 (các điểm a, b, c, d).
- Phụ lục III Nghị định 207/2026/NĐ-CP — Biện pháp bảo đảm an toàn trong thi công xây dựng công trình: các mục 1 đến 11, trong đó mục 6 gồm các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h, i.
- Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 — khoản 3 Điều 50 và khoản 3 Điều 51 (được Nghị định 207/2026/NĐ-CP dẫn chiếu; cần đối chiếu trực tiếp toàn văn khi áp dụng).
- Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; pháp luật về bảo vệ môi trường — được Phụ lục III dẫn chiếu cho các nhóm nội dung 5, 7, 8, 9; cần đối chiếu văn bản chuyên ngành tương ứng khi lập hồ sơ.
