daotao@viendaotaocanbo.edu.vn 0904 889 859 – Ms Hoa Thứ 2 - Thứ 7: 07:30 - 17:30 --/--/---- · --:--:--

Nhật ký thi công theo Nghị định 207: người lập, người ký, nội dung, mẫu, xử phạt và 16 tình huống

Nhật ký thi công theo Nghị định 207 do nhà thầu thi công lập, ghi hằng ngày điều kiện thi công, nhân lực, thiết bị, công việc và nghiệm thu, sự cố, kiến nghị. Bài viết hướng dẫn ai lập, ai ký, mẫu tham khảo, viết tay hay điện tử, lưu trữ, mức phạt theo Nghị định 339/2026 và 16 tình huống thực tế.

Nhật ký thi công theo Nghị định 207: người lập, người ký, nội dung, mẫu, xử phạt và 16 tình huống
Minh họa nội dung bài viết và hoạt động đào tạo, tư vấn của Viện.
Mục lục bài viết

Nhật ký thi công theo Nghị định 207 là sổ ghi chép hằng ngày do nhà thầu thi công lập cho từng gói thầu hoặc toàn bộ công trình: điều kiện thi công, nhân công và thiết bị huy động, công việc thi công và nghiệm thu, sự cố, tai nạn lao động, kiến nghị của nhà thầu, giám sát và ý kiến giải quyết của các bên. Căn cứ: khoản 13 Điều 15 và Phụ lục IIa Nghị định 207/2026/NĐ-CP. Hình thức, nội dung do chủ đầu tư và nhà thầu thỏa thuận trước khi thi công. Không có nhật ký hoặc lập không đúng quy định bị phạt 10–20 triệu đồng với tổ chức (điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị định 339/2026/NĐ-CP).

Buổi sáng thứ Ba, đoàn kiểm tra của cơ quan chuyên môn về xây dựng đến công trường. Sau khi xem qua biện pháp thi công và một số biên bản nghiệm thu, câu hỏi đầu tiên dành cho chỉ huy trưởng là: “Cho xin quyển nhật ký thi công”. Nhật ký được mang ra sau mười phút. Người kiểm tra lật vài trang rồi dừng lại: từ ngày 12 đến ngày 18, sáu ngày liên tiếp được ghi bằng cùng một nét bút, cùng một màu mực, nội dung gần như giống nhau — “thời tiết nắng, thi công bình thường, an toàn lao động đảm bảo”. Trong khi đó, biên bản nghiệm thu công việc ngày 15 lại ghi đổ bê tông cột trục C, và biên bản sự cố rơi giàn giáo ngày 17 thì không hề xuất hiện trong nhật ký.

Từ ngày 26/8/2026, đây không còn chỉ là chuyện “hồ sơ đẹp hay xấu”: Nghị định 339/2026/NĐ-CP xử phạt hành vi “không có nhật ký thi công hoặc nhật ký thi công lập không đúng quy định”, và phạt nặng hơn nhiều khi hồ sơ quản lý chất lượng không phù hợp với thời gian thực hiện thực tế. Nhưng hậu quả lớn nhất vẫn là nhật ký mất giá trị chứng minh: khi tranh chấp tiến độ, khi tìm nguyên nhân một vết nứt, khi làm rõ diễn biến ngày xảy ra tai nạn, tài liệu duy nhất ghi lại “cái gì đã xảy ra ở hiện trường vào ngày nào” lại không dùng được.

Bài viết này hướng dẫn đầy đủ về nhật ký thi công theo Nghị định 207: nhật ký là gì, có bắt buộc không, ai lập, ai ghi, ai ký, nội dung bắt buộc theo Phụ lục IIa, mẫu tham khảo và cách ghi một trang ngày, viết tay hay đánh máy, nhật ký điện tử và file Excel, lưu trữ, mức xử phạt theo Nghị định 339/2026/NĐ-CP, kèm 16 tình huống thực tế có cách xử lý. Căn cứ được đối chiếu gồm Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, Nghị định 207/2026/NĐ-CP, Nghị định 217/2026/NĐ-CP và Nghị định 339/2026/NĐ-CP.

Nhật ký thi công là gì và vì sao quan trọng?

Pháp luật xây dựng hiện hành không đưa ra một định nghĩa riêng cho cụm từ “nhật ký thi công”. Từ cách Phụ lục IIa Nghị định 207/2026/NĐ-CP mô tả người lập và nội dung, có thể hiểu nhật ký thi công xây dựng công trình là tài liệu do nhà thầu thi công xây dựng lập, ghi nhận liên tục theo ngày những gì diễn ra tại hiện trường: điều kiện thi công, lực lượng và thiết bị huy động, công việc đã làm và đã nghiệm thu, sự cố và vấn đề phát sinh, kiến nghị và ý kiến giải quyết của các bên. Trong tiếng Anh, tài liệu này thường được gọi là site diary hoặc construction daily log.

Lớp giá trị thứ nhất: giá trị pháp lý

Nhật ký thuộc hệ thống hồ sơ quản lý chất lượng mà nhà thầu phải thiết lập (điểm d khoản 2 Điều 61 Luật Xây dựng 135/2025/QH15); khoản 8 Điều 15 Nghị định 207 yêu cầu: “Hồ sơ quản lý chất lượng của các công việc xây dựng phải phù hợp với thời gian thực hiện thực tế tại công trường.” Khi kiểm tra công tác nghiệm thu, giám định xây dựng, giải quyết sự cố hay tranh chấp hợp đồng, nhật ký là dữ liệu gốc để đối chiếu với biên bản nghiệm thu, báo cáo giám sát, hồ sơ vật liệu và bản vẽ hoàn công. Một biên bản nghiệm thu ký ngày 15 đáng tin hơn nhiều nếu nhật ký ngày 15 mô tả đúng công việc, nhân công, thiết bị ngày đó.

Lớp giá trị thứ hai: giá trị quản trị

Nhật ký ghi trung thực là công cụ điều hành của chính nhà thầu: ngày nào mất công vì mưa, ngày nào thiếu vật tư, ngày nào chờ ý kiến thiết kế. Khi cần đề nghị gia hạn tiến độ hoặc chứng minh nguyên nhân chậm không do lỗi của mình, chỉ nhật ký ghi hằng ngày mới có sức thuyết phục. Nhật ký ghi đối phó thì ngược lại: chung chung không bảo vệ được ai, mâu thuẫn với hồ sơ khác thì quay lại làm hại chính người ghi.

Nói ngắn gọn: nhật ký tốt là bằng chứng; nhật ký làm cho có là dấu vết của sự lỏng lẻo trong quản lý hiện trường.

Căn cứ pháp lý hiện hành của nhật ký thi công theo Nghị định 207

Nghị định 207/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 15/6/2026, có hiệu lực từ 01/7/2026, quy định chi tiết Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình. Theo khoản 2 Điều 52 Nghị định 207, Nghị định 06/2021/NĐ-CP cùng các nghị định sửa đổi, bổ sung đã hết hiệu lực từ ngày 01/7/2026, nên mọi biểu mẫu, quy trình nội bộ, điều khoản hợp đồng còn viện dẫn văn bản cũ này đều cần được rà soát lại.

Nghĩa vụ lập nhật ký được đặt tại khoản 13 Điều 15 Nghị định 207/2026/NĐ-CP — điều quy định trách nhiệm của nhà thầu thi công xây dựng. Nguyên văn: “Lập nhật ký thi công xây dựng công trình và bản vẽ hoàn công theo quy định tại Phụ lục II Nghị định này.” Trong Phụ lục II, Phụ lục IIa quy định về nhật ký thi công xây dựng công trình, Phụ lục IIb quy định về bản vẽ hoàn công. Hai tài liệu khác nhau nhưng cùng một logic: đều do nhà thầu thi công lập, đều phản ánh thực tế thi công và đều là đầu vào cho bộ hồ sơ cuối cùng — xem thêm bài hồ sơ hoàn công công trình xây dựng gồm những gì.

Một lưu ý về căn cứ: nhật ký thi công không thuộc phạm vi hướng dẫn của Thông tư 32/2026/TT-BXD. Thông tư này quy định chi tiết một số nội dung khác của Nghị định 207 (kế hoạch tổ chức thí nghiệm, quan trắc, kiểm định, giám định xây dựng, công trình hết thời hạn sử dụng…). Vì vậy, khi lập hoặc kiểm tra nhật ký, căn cứ cần viện dẫn là khoản 13 Điều 15 và Phụ lục IIa Nghị định 207/2026/NĐ-CP.

Bảng dưới đây gom toàn bộ căn cứ liên quan đến nhật ký thi công mà người làm hồ sơ hiện trường nên biết.

Văn bản – điều khoảnNội dung chínhÝ nghĩa với nhật ký thi công
Luật Xây dựng 135/2025/QH15, điểm d khoản 2 Điều 61Nhà thầu thi công phải có hệ thống quản lý chất lượng và thiết lập hồ sơ quản lý chất lượng công trìnhNhật ký là một phần của hồ sơ quản lý chất lượng do nhà thầu thiết lập
Luật Xây dựng 135/2025/QH15, khoản 1 Điều 42Nhà thầu lưu trữ hồ sơ công việc do mình thực hiện; chủ đầu tư lưu trữ hồ sơ hoàn thành công trìnhNghĩa vụ lưu trữ nhật ký
NĐ 207/2026, khoản 13 Điều 15Nhà thầu lập nhật ký thi công và bản vẽ hoàn công theo Phụ lục IICăn cứ trực tiếp của nghĩa vụ lập nhật ký
NĐ 207/2026, khoản 8 Điều 15Hồ sơ quản lý chất lượng phải phù hợp với thời gian thực hiện thực tế tại công trườngCấm “ghi lùi”, ghi dồn làm lệch thời gian thực tế
NĐ 207/2026, khoản 17 Điều 15Nhà thầu tổ chức lập và lưu trữ hồ sơ quản lý thi công đối với phần việc do mình thực hiệnTrách nhiệm lưu giữ nhật ký của từng nhà thầu
NĐ 207/2026, Phụ lục IIa (mục 1–4)Người lập; thỏa thuận hình thức, nội dung trước khi thi công; 4 nhóm nội dung; văn bản kỹ thuật lưu kèmQuy định “lõi” về nhật ký
NĐ 207/2026, Điều 11Được thỏa thuận ứng dụng công nghệ thông tin, lập hồ sơ điện tử; khi có yêu cầu phải in bản giấy, chủ đầu tư xác nhậnCơ sở cho nhật ký điện tử
NĐ 207/2026, khoản 4 Điều 28Hồ sơ hoàn thành lưu bằng bản gốc và bản sao điện tử; các chủ thể lưu hồ sơ phần việc của mìnhCách lưu trữ nhật ký sau khi hoàn thành
NĐ 339/2026, điểm c khoản 1 và điểm đ khoản 4 Điều 23Phạt không có nhật ký hoặc lập không đúng quy định; phạt hồ sơ quản lý chất lượng không phù hợp thời gian thực tếChế tài trực tiếp
NĐ 339/2026, Điều 35, Điều 36Phạt chủ đầu tư, nhà thầu không lưu trữ hoặc lưu trữ không đầy đủ hồ sơChế tài về lưu trữ

Với công trình khởi công trước ngày 01/7/2026, Điều 53 Nghị định 207 chỉ đặt quy định chuyển tiếp cho loại, cấp công trình, hồ sơ thủ tục hành chính đã tiếp nhận và việc kiểm tra công tác nghiệm thu; không có quy định chuyển tiếp riêng cho nhật ký. Cách xử lý thực tế được phân tích ở Tình huống 13 bên dưới và trong bài công trình khởi công trước 01/7/2026 áp dụng nghị định nào.

Nhật ký thi công có bắt buộc không? Công trình nào phải lập

Khoản 13 Điều 15 Nghị định 207 là trách nhiệm của nhà thầu thi công xây dựng, không phân biệt nguồn vốn, loại hay cấp công trình. Theo khoản 2 Điều 1, Nghị định áp dụng với mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có liên quan đến quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình trên lãnh thổ Việt Nam. Vì vậy, câu trả lời ngắn gọn là: có, nhà thầu thi công xây dựng công trình phải lập nhật ký thi công, dù dự án dùng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công hay vốn tư nhân.

Trường hợp cần phân tích riêng là nhà ở riêng lẻ. Điều 10 Nghị định 207 đặt cơ chế quản lý riêng:

  • Với nhà ở riêng lẻ thông thường, điểm b khoản 3 Điều 10 quy định chủ sở hữu nhà ở tổ chức thi công, giám sát và chịu trách nhiệm về an toàn; Nghị định chỉ khuyến khích chủ sở hữu tổ chức giám sát, lập và lưu trữ hồ sơ công trình theo Nghị định này.
  • Với nhà ở riêng lẻ từ 7 tầng trở lên hoặc có từ 2 tầng hầm trở lên (điểm c khoản 2 Điều 10), điểm c khoản 3 Điều 10 yêu cầu chủ sở hữu phải tổ chức thi công, giám sát thi công theo quy định của Nghị định 207. Theo cách hiểu của chúng tôi, khi đó nhà thầu thi công phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm tại Điều 15, bao gồm lập nhật ký thi công theo Phụ lục IIa.

Như vậy, với nhà ở riêng lẻ quy mô nhỏ, nhật ký không phải nghĩa vụ bắt buộc theo Nghị định 207, nhưng vẫn rất nên lập (dù đơn giản) để chủ nhà và nhà thầu có căn cứ khi phát sinh tranh chấp về tiến độ, khối lượng hay hư hỏng nhà liền kề.

Ai lập, ai ghi, ai ký nhật ký thi công?

Đây là nhóm câu hỏi được tìm kiếm nhiều nhất: “nhật ký thi công do ai lập”, “ai ký vào nhật ký thi công”, “nhật ký thi công có cần chủ đầu tư ký không”. Câu trả lời cần tách thành ba lớp: người chịu trách nhiệm lập, người trực tiếp ghi và người ký xác nhận.

Người lập: nhà thầu thi công xây dựng

Mục 1 Phụ lục IIa quy định: nhật ký thi công xây dựng công trình do nhà thầu thi công xây dựng lập cho từng gói thầu xây dựng hoặc toàn bộ công trình xây dựng. Hai mô hình này phải được chọn trước, không để mỗi tổ đội tự quyết:

  • Nhật ký theo gói thầu: hợp với công trình chia nhiều gói độc lập (phần ngầm, phần thân, cơ điện, hoàn thiện…); gắn chặt với phạm vi hợp đồng, nhưng muốn dựng lại toàn cảnh một ngày phải đối chiếu nhiều quyển.
  • Nhật ký cho toàn bộ công trình: hợp với công trình do một nhà thầu làm phần lớn khối lượng hoặc quy mô vừa và nhỏ; bức tranh liền mạch, nhưng dễ ghi thiếu nếu người tổng hợp không nắm hết các mũi thi công.

Người trực tiếp ghi: do hệ thống quản lý thi công của nhà thầu phân công

Phụ lục IIa không chỉ định chức danh nào phải cầm bút. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 15 Nghị định 207 yêu cầu nhà thầu lập và thông báo cho chủ đầu tư hệ thống quản lý thi công xây dựng, trong đó nêu rõ trách nhiệm của từng cá nhân, bao gồm chỉ huy trưởng công trường hoặc giám đốc dự án, các cá nhân phụ trách kỹ thuật thi công trực tiếp và cá nhân quản lý hồ sơ thi công xây dựng công trình. Từ đó, cách làm hợp lý là ghi rõ trong sơ đồ hệ thống quản lý thi công: ai ghi nhật ký hằng ngày (thường là cán bộ kỹ thuật thi công trực tiếp của từng mũi), ai soát và ký xác nhận cuối ngày (chỉ huy trưởng hoặc người được chỉ huy trưởng phân công), ai quản lý quyển nhật ký và tập văn bản kèm theo.

Người ký: theo nội dung ghi và theo thỏa thuận

Phụ lục IIa không quy định thành phần ký trên từng trang nhật ký. Điều quy định là nội dung: nhật ký phải phản ánh kiến nghị của nhà thầu thi công và của giám sát thi công (điểm c mục 3) và ý kiến giải quyết của các bên có liên quan (điểm d mục 3). Theo cách hiểu của chúng tôi, nguyên tắc hợp lý là: ai ghi nội dung nào thì ký vào nội dung đó. Cán bộ kỹ thuật nhà thầu ký phần ghi hằng ngày; giám sát thi công ký khi ghi kiến nghị hoặc xác nhận; đại diện chủ đầu tư, giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế ký khi ghi ý kiến giải quyết.

Còn câu hỏi “nhật ký thi công có cần chủ đầu tư ký không”: Nghị định 207 không bắt buộc chủ đầu tư ký từng trang. Nhưng vì mục 2 Phụ lục IIa giao chủ đầu tư và nhà thầu thỏa thuận hình thức và nội dung nhật ký, hai bên hoàn toàn có thể thống nhất chủ đầu tư (hoặc tư vấn giám sát được chủ đầu tư giao) ký xác nhận theo ngày, theo tuần hoặc theo trang. Khi đã thỏa thuận thì phải làm đúng thỏa thuận.

Nhà thầu phụ, liên danh, hợp đồng EPC

Trường hợp có nhà thầu phụ, mục 1 Phụ lục IIa quy định nhà thầu chính thỏa thuận với nhà thầu phụ về trách nhiệm lập nhật ký đối với các phần việc do nhà thầu phụ thực hiện. Pháp luật không áp đặt một cách duy nhất — thầu phụ có thể tự lập nhật ký cho phần việc của mình, hoặc thầu chính lập chung và thầu phụ cung cấp số liệu — nhưng phải có thỏa thuận. Thỏa thuận này không làm thay đổi ranh giới trách nhiệm: theo khoản 3 Điều 4 Nghị định 207, nhà thầu chính chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về công việc do nhà thầu phụ thực hiện; theo khoản 11 Điều 15, nhà thầu chính có trách nhiệm kiểm tra công tác thi công đối với phần việc của nhà thầu phụ.

Với nhà thầu liên danh, khoản 6 Điều 5 Nghị định 207 yêu cầu từng thành viên thiết lập hệ thống quản lý thi công, chịu trách nhiệm về chất lượng và an toàn đối với phần việc của mình được phân định trong thỏa thuận liên danh. Nghị định không có quy định riêng về nhật ký của liên danh; theo cách hiểu của chúng tôi, phương án an toàn là mỗi thành viên ghi nhật ký cho phạm vi của mình (hoặc phần riêng trong một quyển chung), có một đầu mối tổng hợp trước chủ đầu tư. Cách làm này nhất quán với điểm d mục 1 Phụ lục IIb (mỗi thành viên liên danh tự lập, ký bản vẽ hoàn công phần việc của mình) và khoản 8 Điều 22 (từng thành viên ký biên bản nghiệm thu công việc do mình thực hiện).

Với hợp đồng EPC, chìa khóa trao tay, điểm b khoản 4 Điều 5 giao nhà thầu EPC tổ chức quản lý chất lượng đối với phần việc do mình và nhà thầu phụ thực hiện; hợp đồng nên ghi rõ nhà thầu EPC tổng hợp nhật ký của các nhà thầu phụ thế nào.

Chủ thểVai trò với nhật ký thi côngCăn cứ
Nhà thầu thi công (thầu chính)Lập nhật ký; phân công người ghi, người soát; lưu giữ quyển nhật ký và văn bản kèm theo; chịu trách nhiệm cả phần thầu phụ trước chủ đầu tưKhoản 13, 17 Điều 15; mục 1 PL IIa; khoản 3 Điều 4 NĐ 207
Nhà thầu phụLập hoặc cung cấp số liệu nhật ký cho phần việc của mình theo thỏa thuận với thầu chínhMục 1 PL IIa
Thành viên liên danhChịu trách nhiệm phần việc được phân định; nên ghi, ký phạm vi của mình (cách hiểu)Khoản 6 Điều 5 NĐ 207
Chủ đầu tư / ban quản lý dự ánThỏa thuận hình thức, nội dung nhật ký trước khi thi công; ghi ý kiến giải quyết khi cần; lưu hồ sơ hoàn thànhMục 2 PL IIa; Điều 28 NĐ 207
Tư vấn giám sát thi côngGhi kiến nghị (nếu có); kiểm tra sự khớp giữa nhật ký với hiện trường, biên bản nghiệm thuĐiểm c mục 3 PL IIa; Điều 20 NĐ 207
Nhà thầu thiết kế (giám sát tác giả)Ghi ý kiến giải quyết vấn đề thiết kế khi được mời; văn bản xử lý kỹ thuật lưu kèm nhật kýĐiểm d mục 3, mục 4 PL IIa; Điều 21 NĐ 207

Thỏa thuận hình thức và nội dung nhật ký trước khi thi công

Đây là điểm mà rất nhiều công trường bỏ qua, và cũng là điểm dễ bị “bắt lỗi” nhất khi kiểm tra. Mục 2 Phụ lục IIa quy định: chủ đầu tư thỏa thuận với nhà thầu thi công xây dựng về hình thức và nội dung của nhật ký thi công xây dựng làm cơ sở thực hiện trước khi thi công xây dựng công trình.

Ba từ khóa trong câu này đều có ý nghĩa thực hành:

  • “Hình thức” — quyển sổ đóng dấu giáp lai, biểu mẫu in sẵn, hay bản ghi trên phần mềm; cỡ giấy, cách đánh số trang, cách lưu bản in.
  • “Nội dung” — các trường thông tin phải điền hằng ngày, đủ để bao quát bốn nhóm nội dung tại mục 3 Phụ lục IIa.
  • “Trước khi thi công” — thời điểm phải chốt. Không phải đến khi chuẩn bị nghiệm thu hoàn thành mới ngồi bàn nhau nhật ký nên trông như thế nào.

Thỏa thuận này nên được ghi nhận bằng văn bản: một biên bản thống nhất mẫu nhật ký, một điều khoản trong hợp đồng, hoặc một mục trong kế hoạch quản lý chất lượng được chủ đầu tư chấp thuận. Chủ đầu tư và ban quản lý dự án nên đưa nội dung này vào danh mục việc phải hoàn tất trước ngày khởi công, cùng nhóm với hệ thống quản lý thi công của nhà thầu và biện pháp bảo đảm an toàn. Chỉ huy trưởng cũng nên coi đây là một đầu mục trong hồ sơ hiện trường cần kiểm soát trong thi công.

Viết tay hay đánh máy? In 1 mặt hay 2 mặt? Có phải đóng dấu giáp lai?

Những câu hỏi rất cụ thể này xuất hiện liên tục trong tìm kiếm. Câu trả lời chung: Nghị định 207/2026/NĐ-CP không quy định nhật ký phải viết tay hay đánh máy, in một mặt hay hai mặt, có đóng dấu giáp lai hay không. Đây đúng là những chi tiết thuộc “hình thức” mà mục 2 Phụ lục IIa giao cho chủ đầu tư và nhà thầu thỏa thuận. Khi đã ghi vào biên bản thỏa thuận hoặc hợp đồng thì đó là quy tắc bắt buộc của công trình đó. Gợi ý của Viện:

  • Viết tay hay đánh máy: cả hai đều dùng được nếu đã thỏa thuận. Viết tay trên quyển sổ đánh số trang có ưu điểm khó chèn, khó thay trang; đánh máy (hoặc phần mềm) dễ đọc, dễ tìm kiếm nhưng cần cơ chế chống sửa sau khi đã ký — ví dụ in ra và ký cuối mỗi ngày, hoặc dùng phần mềm có lưu vết chỉnh sửa.
  • In 1 mặt hay 2 mặt: chọn sao cho không thể chèn trang. Với sổ đóng sẵn, in hai mặt tiết kiệm và vẫn bảo đảm liên tục; với bản in rời từ máy tính, nên đánh số trang dạng “trang x/y” và đóng tập theo tháng.
  • Đóng dấu giáp lai: không phải yêu cầu của Nghị định 207, nhưng là cách đơn giản để chứng minh quyển nhật ký không bị thay trang. Nếu áp dụng, nên đóng dấu giáp lai của nhà thầu (và của chủ đầu tư nếu hai bên muốn) ngay khi mở sổ, trước ngày ghi đầu tiên.
  • Tẩy xóa: không nên tẩy xóa, không dùng bút xóa, không xé trang. Cách sửa được nhiều đơn vị áp dụng là gạch một đường lên nội dung sai (vẫn đọc được chữ cũ), ghi nội dung đúng bên cạnh hoặc ở dòng kế tiếp, ký nháy và ghi ngày sửa. Đây là khuyến nghị quản trị — Phụ lục IIa không quy định cách sửa — nên cần đưa vào thỏa thuận ngay từ đầu.

Danh sách các điểm nên có trong biên bản thỏa thuận được tổng hợp ở mục checklist “Trước ngày khởi công” cuối bài.

Nội dung nhật ký thi công theo Nghị định 207 (Phụ lục IIa)

Mục 3 Phụ lục IIa quy định nội dung nhật ký thi công xây dựng gồm “các thông tin chủ yếu” sau:

  1. Điểm a — diễn biến điều kiện thi công (nhiệt độ, thời tiết và các thông tin liên quan); số lượng nhân công, thiết bị do nhà thầu thi công xây dựng huy động để thực hiện thi công tại hiện trường; các công việc xây dựng được thi công và nghiệm thu hàng ngày trên công trường;
  2. Điểm b — mô tả chi tiết các sự cố, hư hỏng, tai nạn lao động, các vấn đề phát sinh khác và biện pháp khắc phục, xử lý trong quá trình thi công xây dựng công trình (nếu có);
  3. Điểm c — các kiến nghị của nhà thầu thi công xây dựng, giám sát thi công xây dựng (nếu có);
  4. Điểm d — những ý kiến về việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thi công xây dựng của các bên có liên quan.

Cụm từ “các thông tin chủ yếu” cho thấy đây là nội dung tối thiểu; chủ đầu tư và nhà thầu có thể thỏa thuận thêm trường thông tin (ví dụ: vật liệu nhập về, kết quả thí nghiệm nhận trong ngày, khách đến công trường). Bảng dưới đây chuyển bốn nhóm nội dung thành ngôn ngữ công việc: ghi cái gì, lấy dữ liệu từ đâu và ai nên xác nhận.

Nhóm nội dung (Phụ lục IIa)Ghi những gìNguồn dữ liệu tại công trườngAi nên xác nhận
a) Diễn biến điều kiện thi côngNhiệt độ, thời tiết và thông tin liên quan; giờ bắt đầu/dừng do thời tiếtQuan sát hiện trường, bản tin thời tiết khu vực, sổ giao caCán bộ kỹ thuật ghi, chỉ huy trưởng soát
a) Nhân công, thiết bị huy độngSố lượng nhân công theo tổ đội/nghề; thiết bị thi công huy động tại hiện trườngBảng chấm công, sổ điểm danh cổng, sổ theo dõi máyĐội trưởng/ca trưởng, cán bộ kỹ thuật
a) Công việc thi công và nghiệm thu hằng ngàyCông việc đã thi công theo hạng mục/trục/cao độ; công việc được nghiệm thu trong ngàyPhiếu giao việc, phiếu yêu cầu nghiệm thu, biên bản nghiệm thu công việcCán bộ kỹ thuật nhà thầu và giám sát thi công
b) Sự cố, hư hỏng, tai nạn lao động, vấn đề phát sinhMô tả chi tiết diễn biến, phạm vi ảnh hưởng và biện pháp khắc phục, xử lýBáo cáo nhanh của tổ đội, hồ sơ an toàn, hình ảnh hiện trườngChỉ huy trưởng, cán bộ an toàn, giám sát
c) Kiến nghịKiến nghị của nhà thầu thi công và của giám sát thi công (nếu có)Trao đổi tại hiện trường, phiếu yêu cầu xử lý kỹ thuậtNgười nêu kiến nghị ký
d) Ý kiến giải quyết vấn đề phát sinhÝ kiến xử lý của các bên có liên quan đối với vấn đề đã nêuKết luận họp giao ban, văn bản trả lời của thiết kế/chủ đầu tưĐại diện bên nêu ý kiến

Lưu ý: hai cột “nguồn dữ liệu” và “ai nên xác nhận” là khuyến nghị quản trị nhằm bảo đảm số liệu ghi vào nhật ký có gốc đối chiếu. Phụ lục IIa quy định các nhóm nội dung phải có, còn cách tổ chức xác nhận cụ thể thuộc về thỏa thuận giữa chủ đầu tư với nhà thầu trước khi thi công.

Điều kiện thi công, nhân lực và thiết bị

Nhóm nội dung điểm a thường bị ghi qua loa nhất, nhưng lại có giá trị chứng minh cao nhất khi phát sinh tranh chấp về tiến độ và chi phí.

Điều kiện thi công không chỉ là “nắng” hay “mưa”: nhiệt độ ảnh hưởng bê tông, sơn, chống thấm, hàn; mưa lớn liên quan thoát nước, an toàn hố đào; gió mạnh liên quan cẩu tháp, giàn giáo bao che. Khung giờ dừng thi công vì thời tiết là dữ liệu quan trọng khi đề nghị điều chỉnh tiến độ.

Nhân công nên ghi theo tổ đội và nghề: “cốp pha 34, cốt thép 28, bê tông 16, hoàn thiện 30, cơ điện 12” có giá trị hơn nhiều so với “120 người”. Cách ghi này giúp phát hiện sớm việc huy động không đủ so với hợp đồng — nội dung giám sát phải kiểm tra (điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định 207) và là hành vi bị xử phạt tại điểm e khoản 3 Điều 23 Nghị định 339/2026/NĐ-CP. Thiết bị ghi theo loại, số lượng, tình trạng; với cẩu tháp, vận thăng, máy ép cọc…, nội dung cần khớp hồ sơ kiểm định và hồ sơ an toàn.

Công việc được thi công và nghiệm thu hằng ngày

Đây là phần “xương sống” của nhật ký. Mỗi dòng công việc phải định vị được trong không gian công trình: hạng mục, tầng/cao độ, trục hoặc phân khu, khối lượng ước tính. Với công việc nghiệm thu trong ngày, nên ghi kèm số biên bản nghiệm thu để tạo liên kết hai chiều giữa nhật ký và hồ sơ nghiệm thu. Liên kết này càng quan trọng vì khoản 3 Điều 22 Nghị định 207 yêu cầu người giám sát nghiệm thu công việc trong không quá 24 giờ kể từ khi nhận đề nghị của nhà thầu; nhật ký ghi rõ giờ gửi đề nghị và giờ nghiệm thu là bằng chứng trực tiếp khi có tranh cãi về việc chờ nghiệm thu.

Liên kết đặc biệt cần thiết với công việc bị che khuất: cốt thép trước khi đổ bê tông, hệ thống ngầm trước khi lấp, chống thấm trước khi cán nền. Sau khi che khuất, không còn cách nào kiểm tra lại ngoài hồ sơ — và nhật ký là lớp bằng chứng bổ sung cho biên bản nghiệm thu. Nếu biên bản nghiệm thu ghi ngày 15 nhưng nhật ký ngày 15 không đề cập công việc đó, hoặc nhật ký ghi hôm đó cả công trường nghỉ mưa, mâu thuẫn sẽ đặt dấu hỏi cho toàn bộ hồ sơ hạng mục. Nội dung chi tiết về các cấp nghiệm thu xem bài nghiệm thu công trình xây dựng theo Nghị định 207.

Sự cố, hư hỏng, tai nạn lao động và vấn đề phát sinh

Điểm b mục 3 Phụ lục IIa yêu cầu mô tả chi tiết sự cố, hư hỏng, tai nạn lao động, vấn đề phát sinh khác và biện pháp khắc phục, xử lý. Hai yêu cầu đi liền nhau: ghi sự việc mà không ghi cách xử lý là ghi thiếu.

Tâm lý thường gặp là né tránh — ngại ghi sự cố vì sợ “để lại bằng chứng bất lợi”. Thực tế ngược lại. Khi sự cố đã xảy ra và có nhiều người chứng kiến, việc không ghi vào nhật ký không xóa được sự việc, chỉ làm mất khả năng chứng minh rằng nhà thầu đã phát hiện kịp thời và xử lý đúng cách — đúng nghĩa vụ dừng thi công, khắc phục tại khoản 9 Điều 15 Nghị định 207. Bản ghi tốt nên có: thời điểm phát hiện, vị trí, mô tả hiện trạng, phạm vi ảnh hưởng, người đã báo cáo, biện pháp tạm thời, biện pháp xử lý chính thức và ngày hoàn thành xử lý.

Cần phân biệt: ghi nhật ký là nghĩa vụ ghi chép của nhà thầu, còn sự cố công trình xây dựng có trình tự báo cáo, giải quyết, giám định riêng tại các Điều 45–48 Nghị định 207; tai nạn lao động có trình tự khai báo, điều tra theo pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động (khoản 2 Điều 49 Nghị định 207). Nhật ký không thay thế các thủ tục đó, nhưng là tài liệu đầu tiên được yêu cầu xuất trình khi tổ chức điều tra nguyên nhân. Xem thêm bài sự cố công trình xây dựng: trình tự báo cáo, bảo vệ hiện trường và xử lý trách nhiệm.

Kiến nghị và ý kiến giải quyết của các bên

Điểm c và điểm d mục 3 Phụ lục IIa tạo thành một cặp: kiến nghị của nhà thầu thi công và của giám sát thi công (nếu có), và ý kiến về việc giải quyết các vấn đề phát sinh của các bên có liên quan. Đây là phần biến nhật ký từ sổ ghi việc thành công cụ trao đổi kỹ thuật có dấu vết.

Ví dụ: giám sát ghi kiến nghị dừng công tác lấp đất vì chưa nghiệm thu chống thấm; nhà thầu ghi kiến nghị làm rõ cao độ đáy móng do sai khác địa chất so với hồ sơ khảo sát — đúng nghĩa vụ “kịp thời thông báo cho chủ đầu tư nếu phát hiện sai khác” tại khoản 8 Điều 15; chủ đầu tư ghi ý kiến chấp thuận phương án xử lý sau khi có văn bản của đơn vị thiết kế. Ba dòng ghi này, cùng ngày tháng rõ ràng, có giá trị hơn nhiều cuộc trao đổi miệng. Kỹ năng mô tả sai khác được trình bày kỹ trong bài kỹ năng ghi nhận hiện trường và xử lý sai khác trong thi công.

Mẫu nhật ký thi công theo Nghị định 207: có biểu mẫu bắt buộc không?

Rất nhiều người tìm “mẫu nhật ký thi công mới nhất”, “mẫu nhật ký thi công theo quy định”, “file word/excel nhật ký thi công”. Cần nói rõ: Phụ lục IIa Nghị định 207/2026/NĐ-CP không ban hành biểu mẫu nhật ký. Phụ lục này chỉ quy định người lập, yêu cầu thỏa thuận và bốn nhóm nội dung chủ yếu. Khác với bản vẽ hoàn công — Phụ lục IIb có hai mẫu dấu bản vẽ hoàn công cụ thể — nhật ký thi công được để mở về hình thức. Vì vậy:

  • Không có “mẫu nhật ký thi công theo Nghị định 207” do Chính phủ ban hành; các file được gắn nhãn như vậy trên mạng đều là mẫu do đơn vị tự soạn.
  • Mẫu dùng cho công trình là mẫu mà chủ đầu tư và nhà thầu đã thỏa thuận trước khi thi công theo mục 2 Phụ lục IIa.
  • Mẫu cũ soạn theo hệ thống văn bản trước 01/7/2026 vẫn có thể dùng làm khung nếu bao quát đủ bốn nhóm nội dung của Phụ lục IIa, nhưng phải sửa phần căn cứ pháp lý in trên bìa.

Dưới đây là khung mẫu tham khảo do Viện biên soạn để anh/chị đưa vào biên bản thỏa thuận — không phải biểu mẫu do Nghị định 207 ban hành.

Bìa và trang thông tin chung

  • Bìa: “NHẬT KÝ THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH”; công trình/hạng mục/gói thầu; địa điểm; chủ đầu tư; nhà thầu thi công; quyển số, từ ngày … đến ngày …; căn cứ khoản 13 Điều 15 và Phụ lục IIa Nghị định 207/2026/NĐ-CP.
  • Trang thông tin chung: số, ngày hợp đồng; tư vấn giám sát, nhà thầu thiết kế, nhà thầu phụ; họ tên, chức danh, chữ ký mẫu của người được ghi, ký nhật ký; số, ngày biên bản thỏa thuận; tổng số trang.
  • Trang theo dõi thay đổi nhân sự và trang danh mục văn bản kỹ thuật lưu kèm (số thứ tự, số/ngày văn bản, bên phát hành, nội dung tóm tắt).

Trang ghi hằng ngày — khung tham khảo

Mục trên trang ngàyNội dung cần điềnỨng với Phụ lục IIa
1. Ngày, thứ, ca làm việcNgày/tháng/năm; giờ bắt đầu – kết thúc; ca đêm (nếu có)Nhịp ghi “hàng ngày” (điểm a)
2. Thời tiết, nhiệt độSáng/chiều; nhiệt độ; mưa từ … giờ đến … giờ; gióĐiểm a
3. Nhân côngTheo tổ đội/nghề; của thầu chính và của từng thầu phụĐiểm a
4. Thiết bịLoại, số lượng, tình trạng (hoạt động/chờ/hỏng)Điểm a
5. Công việc thi côngHạng mục – tầng/cao độ – trục – khối lượng ước tính – mũi thi côngĐiểm a
6. Công việc nghiệm thuTên công việc, số biên bản, giờ nghiệm thu, kết quảĐiểm a
7. Sự cố, hư hỏng, tai nạn, vấn đề phát sinhMô tả, phạm vi, biện pháp tạm thời, biện pháp xử lý; “không có” nếu không phát sinhĐiểm b
8. Kiến nghịCủa nhà thầu; của giám sát (ghi rõ người nêu, ký)Điểm c
9. Ý kiến giải quyếtCủa chủ đầu tư, thiết kế, giám sát… (ghi rõ người, ký)Điểm d
10. Văn bản kỹ thuật phát hành/nhận trong ngàySố thứ tự trong danh mục lưu kèmMục 4
11. Chữ kýNgười ghi; người soát (chỉ huy trưởng hoặc người được phân công); xác nhận khác theo thỏa thuậnTheo thỏa thuận (mục 2)

Ví dụ một trang nhật ký ghi đúng

Ví dụ minh họa (số liệu giả định) cho một ngày tại công trình nhà điều hành 9 tầng:

  • Ngày 14/10/2026 (thứ Tư), ca ngày 7h00–17h30. Sáng nắng nhẹ, 27°C; chiều mưa rào 14h10–15h00, dừng đổ bê tông trong thời gian mưa, che bạt bề mặt.
  • Nhân công 96: cốp pha 28, cốt thép 24, bê tông 14, xây 18, cơ điện (thầu phụ Công ty B) 12.
  • Thiết bị: cẩu tháp 1 (hoạt động), vận thăng 1 (hoạt động), bơm bê tông cần 1 (8h00–14h10), máy đầm dùi 4.
  • Công việc thi công: đổ bê tông dầm sàn tầng 5, trục 1–4/A–D, khoảng 52 m³, 8h00–14h10 và 15h05–16h20; lắp cốp pha cột tầng 6 trục 5–8; xây tường bao tầng 3 trục A, khoảng 18 m³.
  • Nghiệm thu: nghiệm thu cốt thép cột tầng 6 trục 5–8, biên bản số 214/NTCV, 7h30; kết quả đạt.
  • Vấn đề phát sinh: 10h20 phát hiện 1 cây chống tổ hợp sàn tầng 5 trục 2/B bị lún; dừng đổ khu vực trục 2, chèn thêm 2 cây chống, kiểm tra lại, tiếp tục lúc 10h50.
  • Kiến nghị: giám sát Nguyễn Văn H. đề nghị lấy thêm 1 tổ mẫu cho đoạn đổ sau mưa (ký). Nhà thầu đồng ý, đã lấy mẫu số M-0514.
  • Văn bản kèm: mục 37 — văn bản số 85/TK ngày 13/10/2026 của nhà thầu thiết kế về vị trí lỗ mở kỹ thuật sàn tầng 5.
  • Ký: người ghi (kỹ sư Trần Văn K.), chỉ huy trưởng (Lê Văn M.), giám sát (Nguyễn Văn H.) theo thỏa thuận.

So với dòng “thời tiết nắng, thi công bình thường, an toàn đảm bảo”, trang ghi này trả lời được mọi câu hỏi kiểm tra: làm gì, ở đâu, bao nhiêu, ai làm, nghiệm thu chưa, có gì bất thường và đã xử lý ra sao.

Nhật ký thi công ghi từ ngày nào, ghi khi nào và theo nguyên tắc nào?

Phụ lục IIa không ghi một “ngày bắt đầu” cụ thể. Theo cách hiểu của chúng tôi, nhật ký bắt đầu từ ngày đầu tiên có hoạt động thi công tại hiện trường thuộc phạm vi gói thầu/công trình (kể cả công tác chuẩn bị như tiếp nhận mặt bằng, định vị, làm lán trại, đường công vụ nếu thuộc hợp đồng) và kéo dài đến khi kết thúc thi công, hoàn thành các nội dung sửa chữa, hoàn thiện trước nghiệm thu hoàn thành. Lý do: mục 2 Phụ lục IIa yêu cầu thỏa thuận hình thức, nội dung “trước khi thi công”, tức là ngày thi công đầu tiên phải đã có mẫu nhật ký để ghi; còn khoản 1 Điều 15 Nghị định 207 đặt việc tiếp nhận, quản lý mặt bằng là trách nhiệm đầu tiên của nhà thầu.

Cụm “các công việc xây dựng được thi công và nghiệm thu hàng ngày trên công trường” xác định nhịp ghi: mỗi ngày thi công là một bản ghi, không gộp tuần, không gộp đợt. Ngày không thi công vẫn nên có dòng ghi lý do (mưa, chờ vật tư, dừng theo yêu cầu), vì khoảng trống ngày tháng luôn là câu hỏi đầu tiên của người kiểm tra.

Ngoài nhịp “hàng ngày”, Phụ lục IIa không quy định kỹ thuật ghi chép. Những nguyên tắc dưới đây mang tính thực hành tốt và nên được đưa vào mẫu đã thỏa thuận:

  • Ghi trong ngày, không ghi hồi tưởng. Nên chốt vào cuối ca hoặc cuối ngày, khi số liệu còn chính xác. Ghi bù nhiều ngày là nguyên nhân phổ biến nhất khiến nhật ký mất giá trị và có thể chạm tới yêu cầu “phù hợp với thời gian thực hiện thực tế” của khoản 8 Điều 15.
  • Không để trang trắng, không xé trang. Dòng trống cuối trang nên gạch chéo trước khi ký.
  • Ghi đủ định lượng. “Đổ bê tông” là chưa đủ; “đổ bê tông dầm sàn tầng 3, trục A–D, khoảng 46 m³, 8h00–12h30” mới là bản ghi dùng được.
  • Nhất quán với hồ sơ khác. Nội dung nhật ký phải khớp với biên bản nghiệm thu, phiếu xuất vật liệu, kết quả thí nghiệm và báo cáo của giám sát cùng kỳ.
  • Ghi sự thật, không ghi đánh giá cảm tính. “Bê tông đạt yêu cầu” là kết luận của nghiệm thu, không phải của người ghi nhật ký; nhật ký nên ghi dữ kiện (đã lấy mẫu số…, độ sụt đo được…).

Văn bản kỹ thuật hiện trường được lưu cùng nhật ký

Mục 4 Phụ lục IIa quy định: trường hợp chủ đầu tư và các nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng công trình phát hành văn bản để giải quyết các vấn đề kỹ thuật trên công trường thì các văn bản này được lưu giữ cùng với nhật ký thi công xây dựng công trình.

Quy định này biến nhật ký thành một “bộ hồ sơ” chứ không chỉ một quyển sổ. Các văn bản thường thuộc nhóm này: văn bản trả lời của đơn vị thiết kế về xử lý kỹ thuật, thông báo của chủ đầu tư về thay đổi biện pháp thi công, văn bản của giám sát yêu cầu khắc phục, biên bản xử lý hiện trường giữa các bên. Cách làm gọn là đánh số văn bản theo thứ tự nhận, ghi tham chiếu ngay tại dòng nhật ký của ngày tương ứng, lưu bản gốc hoặc bản sao trong tập kèm theo. Khi bàn giao hồ sơ, tập văn bản đi cùng nhật ký, tránh cảnh nhật ký nhắc đến “theo văn bản ngày 20/8” mà không ai tìm được văn bản đó.

Nhật ký thi công điện tử, phần mềm và file Excel: có được không?

Câu hỏi này ngày càng phổ biến khi nhiều nhà thầu dùng phần mềm quản lý thi công, ứng dụng chấm công và ảnh hiện trường gắn định vị. Nghị định 207/2026/NĐ-CP có Điều 11 về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thi công xây dựng công trình:

  • Khoản 1: chủ đầu tư và các nhà thầu được quyền thỏa thuận (a) lựa chọn ứng dụng giải pháp công nghệ thông tin, mô hình thông tin công trình (BIM) để quản lý thi công, quản lý chất lượng, nghiệm thu, bàn giao; (b) lập hồ sơ, tài liệu thuộc danh mục hồ sơ hoàn thành công trình tại Phụ lục VII theo pháp luật về giao dịch điện tử, và chịu trách nhiệm về nội dung, tính chính xác, trung thực, bảo mật và lưu trữ an toàn của hồ sơ điện tử đối với phần việc do mình thực hiện.
  • Khoản 2: khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hồ sơ dưới định dạng tập tin điện tử phải được trích xuất, in thành bản giấy và được chủ đầu tư xác nhận.

Ngoài ra, khoản 4 Điều 8 Nghị định 217/2026/NĐ-CP yêu cầu chủ đầu tư công trình cấp I trở lên thuộc dự án đầu tư công áp dụng BIM thiết lập, vận hành Môi trường dữ liệu chung (CDE) để quản lý, lưu trữ, chia sẻ, kiểm soát thông tin dự án; các cấp công trình khác được khuyến khích. Với những dự án này, đưa nhật ký vào CDE là lựa chọn tự nhiên.

Cách làm an toàn: có thỏa thuận trước khi thi công; xác thực người ghi, lưu vết chỉnh sửa, lưu trữ an toàn; và xuất được bản giấy đầy đủ theo ngày để chủ đầu tư xác nhận khi được yêu cầu.

Tiêu chíSổ giấyFile Excel/Word dùng chungPhần mềm/ứng dụng chuyên dụng, CDE
Cơ sở pháp lýMục 2 PL IIa (thỏa thuận hình thức)Mục 2 PL IIa + Điều 11 NĐ 207Mục 2 PL IIa + Điều 11 NĐ 207; khoản 4 Điều 8 NĐ 217 (CDE)
Chống sửa sau khi kýTốt nếu đánh số trang, giáp lai, không tẩy xóaYếu: dễ sửa, khó chứng minh thời điểm ghiTốt nếu có nhật ký hệ thống, ký số, phân quyền
Xác định người ghiChữ ký tayKhó, trừ khi in ký hằng ngàyTài khoản cá nhân, ký số
Ảnh, tọa độ, liên kết hồ sơPhải đính kèm rờiCó thể chèn nhưng nặng, dễ mấtĐính kèm trực tiếp, tra cứu nhanh
Đáp ứng khoản 2 Điều 11 (in bản giấy, chủ đầu tư xác nhận)Sẵn cóIn được, nhưng phải chứng minh bản in là bản cuối cùngCần chức năng xuất theo ngày, đầy đủ chữ ký
Rủi ro chínhMất, ướt, cháy; ghi dồnBị sửa sau, tranh chấp bản nào là bản gốcPhụ thuộc nhà cung cấp, mất dữ liệu khi hết hợp đồng phần mềm

Nhiều đơn vị áp dụng mô hình kết hợp: ghi trên phần mềm hằng ngày, in theo tuần hoặc theo tháng, ký xác nhận và đóng thành tập. Đây là lựa chọn quản trị, không phải yêu cầu bắt buộc của Nghị định, nhưng giảm rủi ro khi hồ sơ được kiểm tra ở nhiều thời điểm. Riêng file Excel “tự động”, “chạy nhật ký” được chia sẻ trên mạng: công cụ này giúp soạn nhanh, nhưng nếu dùng để sinh hàng loạt nội dung giống nhau cho nhiều ngày thì chính là ghi dồn — đúng lỗi mà người kiểm tra tìm đầu tiên.

Phân biệt nhật ký thi công, nhật ký an toàn, “nhật ký giám sát” và báo cáo giám sát

Trên công trường thường có nhiều loại “sổ”, và người mới dễ nhầm. Trong nhóm này, nhật ký thi công là tài liệu duy nhất được Nghị định 207 gọi đích danh. Nghị định không quy định một “nhật ký giám sát” riêng: tổ chức giám sát lập báo cáo về công tác giám sát theo khoản 3 Điều 20 và Phụ lục IV, còn kiến nghị của giám sát trong quá trình thi công được ghi thẳng vào nhật ký thi công (điểm c mục 3 Phụ lục IIa). Nghị định cũng không quy định “nhật ký an toàn”: tai nạn lao động phải ghi trong nhật ký thi công (điểm b mục 3 Phụ lục IIa), còn sổ theo dõi, huấn luyện, khai báo tai nạn thực hiện theo pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động — văn bản không thuộc phạm vi đối chiếu của bài này.

Tài liệuNgười lậpCăn cứNhịp lậpMục đích chính
Nhật ký thi côngNhà thầu thi công (thầu phụ theo thỏa thuận)Khoản 13 Điều 15, PL IIa NĐ 207Hằng ngàyGhi nhận diễn biến hiện trường, nghiệm thu, sự cố, kiến nghị, ý kiến giải quyết
Báo cáo định kỳ công tác giám sátTổ chức, cá nhân giám sát thi côngĐiểm a khoản 3 Điều 20, PL IVa NĐ 207Định kỳ/giai đoạn theo hợp đồngĐánh giá sự phù hợp, khối lượng, tiến độ, an toàn, thí nghiệm, tồn tại trong kỳ
Báo cáo hoàn thành công tác giám sátTổ chức giám sát (giám sát trưởng, người đại diện)Điểm b khoản 3 Điều 20, PL IVb NĐ 207Khi nghiệm thu giai đoạn, hoàn thànhĐánh giá điều kiện nghiệm thu, sự phù hợp của hồ sơ quản lý chất lượng
Báo cáo của nhà thầu cho chủ đầu tưNhà thầu thi côngKhoản 15 Điều 15 NĐ 207Theo hợp đồng hoặc đột xuấtBáo cáo tiến độ, chất lượng, khối lượng, an toàn
Sổ ghi chép nội bộ của giám sát, sổ an toànTheo quy chế nội bộ/ pháp luật chuyên ngànhKhông quy định tại NĐ 207Tùy đơn vịCông cụ quản trị, phục vụ lập báo cáo

Ý nghĩa thực tế: báo cáo giám sát theo Phụ lục IVb có mục “đánh giá về sự phù hợp của hồ sơ quản lý chất lượng”. Nhật ký thi công không khớp với thời gian thực tế sẽ khiến giám sát khó ký báo cáo này. Nội dung giám sát phải kiểm tra được phân tích trong bài tư vấn giám sát thi công phải kiểm tra những gì theo Nghị định 207.

Nhật ký thi công trong nghiệm thu, sự cố, hồ sơ hoàn thành và kiểm tra của cơ quan nhà nước

Trong nghiệm thu

Nhật ký không phải là thành phần được liệt kê trong nội dung biên bản nghiệm thu công việc (khoản 4 Điều 22) hay biên bản nghiệm thu hoàn thành (khoản 5 Điều 24). Nhưng điều kiện nghiệm thu hoàn thành tại điểm b khoản 1 Điều 24 là “công tác nghiệm thu công việc xây dựng, bộ phận, giai đoạn… được thực hiện đầy đủ”, và cách nhanh nhất để chứng minh nghiệm thu công việc đã diễn ra đúng trình tự là đối chiếu biên bản với nhật ký cùng ngày. Nhật ký vì thế là “chứng cứ nền” của toàn bộ hồ sơ nghiệm thu.

Khi kiểm tra công tác nghiệm thu

Điểm a khoản 1 Điều 27 Nghị định 207 quy định cơ quan chuyên môn về xây dựng kiểm tra sự tuân thủ các quy định về quản lý chất lượng, quản lý an toàn của chủ đầu tư và các nhà thầu từ khi khởi công đến khi nghiệm thu hoàn thành. Việc lập nhật ký theo khoản 13 Điều 15 là một quy định về quản lý chất lượng của nhà thầu, nên đây là tài liệu thường được yêu cầu xuất trình ngay từ đợt kiểm tra trong quá trình thi công. Đối tượng và trình tự kiểm tra xem bài kiểm tra công tác nghiệm thu công trình theo Nghị định 207.

Khi xảy ra sự cố

Điểm b khoản 3 Điều 46 yêu cầu hiện trường sự cố phải được các bên chụp ảnh, quay phim, thu thập chứng cứ, ghi chép tư liệu cần thiết trước khi phá dỡ, thu dọn; Điều 48 quy định hồ sơ sự cố gồm “các tài liệu về thiết kế và thi công xây dựng công trình liên quan đến sự cố”. Theo cách hiểu của chúng tôi, nhật ký những ngày trước và trong ngày xảy ra sự cố chắc chắn thuộc nhóm tài liệu thi công liên quan này.

Trong hồ sơ hoàn thành công trình

Danh mục hồ sơ hoàn thành công trình tại Phụ lục VII Nghị định 207, mục III “Hồ sơ quản lý thi công xây dựng công trình”, không ghi đích danh “nhật ký thi công” (mục này liệt kê thay đổi thiết kế, bản vẽ hoàn công, kế hoạch và biện pháp kiểm soát chất lượng, chứng từ vật liệu, kết quả thí nghiệm, biên bản nghiệm thu…). Theo cách hiểu của chúng tôi, nhật ký và tập văn bản kỹ thuật kèm theo thuộc điểm 16 mục III — “các hồ sơ/văn bản/tài liệu khác có liên quan trong giai đoạn thi công xây dựng và nghiệm thu công trình xây dựng”. Nhiều chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu nộp bản sao nhật ký khi lập hồ sơ hoàn thành; nên thống nhất điều này ngay trong hợp đồng. Khoản 1 Điều 28 quy định các nhà thầu chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thành phần hồ sơ do mình lập.

Lưu trữ nhật ký thi công: ai giữ, giữ thế nào

Khoản 1 Điều 42 Luật Xây dựng 135/2025/QH15 quy định chủ đầu tư lưu trữ hồ sơ hoàn thành công trình; nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng lưu trữ hồ sơ công việc do mình thực hiện. Khoản 17 Điều 15 Nghị định 207 nhắc lại: nhà thầu tổ chức lập và lưu trữ hồ sơ quản lý thi công đối với phần việc do mình thực hiện. Khoản 4 Điều 28 bổ sung: hồ sơ hoàn thành công trình phải được lưu trữ bằng bản gốc và bản sao điện tử; không có bản gốc thì thay bằng bản chính hoặc bản sao hợp pháp.

Về thời hạn, khoản 3 Điều 42 Luật Xây dựng dẫn chiếu “pháp luật về lưu trữ”; bài viết này không đối chiếu văn bản đó, nên anh/chị cần kiểm tra quy định lưu trữ áp dụng cho cơ quan, doanh nghiệp mình. Lời khuyên thực tế: nhà thầu nên giữ bản gốc nhật ký ít nhất đến hết thời gian bảo hành và quá thời hiệu xử phạt, giải quyết tranh chấp có thể phát sinh; nếu chủ đầu tư giữ bản gốc thì nhà thầu giữ bản sao có xác nhận và ngược lại — điều này nên ghi trong hợp đồng.

Một số mẹo giữ an toàn quyển nhật ký: không để bản gốc duy nhất ở container công trường; chụp/scan theo tuần lưu lên máy chủ của doanh nghiệp; quyển đầy được bàn giao về văn phòng có biên bản; tập văn bản kỹ thuật lưu cùng chỗ với quyển nhật ký tương ứng.

Xử phạt liên quan đến nhật ký thi công theo Nghị định 339/2026/NĐ-CP

Nghị định 339/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 26/8/2026 và thay thế Nghị định 16/2022/NĐ-CP (đã hết hiệu lực từ cùng ngày, theo Điều 90). Theo điểm a khoản 4 Điều 5, mức phạt tiền ghi trong Nghị định là mức áp dụng cho tổ chức; cá nhân có cùng hành vi bị phạt bằng một nửa (các hành vi tại bảng dưới không thuộc ngoại lệ ở điểm b khoản 4 Điều 5).

Hành viĐiều khoản NĐ 339Mức phạt tổ chứcMức phạt cá nhânBiện pháp khắc phục hậu quả
Nhà thầu không có nhật ký thi công hoặc nhật ký thi công lập không đúng quy địnhĐiểm c khoản 1 Điều 2310–20 triệu đồng5–10 triệu đồngBuộc ghi nhật ký thi công theo quy định đối với công trình đang thi công (điểm c khoản 5 Điều 23)
Hồ sơ quản lý chất lượng của các công việc xây dựng không phù hợp với thời gian thực hiện thực tế tại công trườngĐiểm đ khoản 4 Điều 2360–80 triệu đồng30–40 triệu đồngBuộc lập hồ sơ quản lý chất lượng phù hợp với thời gian thực hiện thực tế (điểm v khoản 5 Điều 23)
Không lập hoặc lập hệ thống quản lý thi công không đúng quy định (gồm phân công người quản lý hồ sơ thi công)Điểm a khoản 4 Điều 2360–80 triệu đồng30–40 triệu đồngBuộc lập hệ thống quản lý thi công (điểm s khoản 5 Điều 23)
Khai khống, khai tăng khối lượng hoặc tính sai tăng khối lượng nghiệm thu, thanh toánKhoản 3 Điều 3160–80 triệu đồng30–40 triệu đồngBuộc tính lại khối lượng nghiệm thu và thanh toán (điểm c khoản 4 Điều 31)
Nhà thầu thi công không lưu trữ hoặc lưu trữ không đầy đủ hồ sơ công việc do mình thực hiệnĐiểm c khoản 1 Điều 3620–40 triệu đồng10–20 triệu đồngBuộc lưu trữ hồ sơ theo quy định (khoản 2 Điều 36)
Nhà thầu giám sát không lưu trữ hoặc lưu trữ không đầy đủ hồ sơ phần việc của mìnhĐiểm b khoản 1 Điều 3620–40 triệu đồng10–20 triệu đồngBuộc lưu trữ hồ sơ (khoản 2 Điều 36)
Chủ đầu tư không lưu trữ hoặc lưu trữ không đầy đủ hồ sơ hoàn thành công trìnhĐiểm b khoản 1 Điều 3520–40 triệu đồng10–20 triệu đồngBuộc lưu trữ hồ sơ hoàn thành công trình (khoản 2 Điều 35)

Hai lưu ý quan trọng khi đọc bảng này:

  • Ghi lùi, ghi dồn có thể bị xem xét ở mức nặng hơn. Điểm c khoản 1 Điều 23 nói về việc không có hoặc lập nhật ký không đúng quy định. Còn khi nhật ký và các tài liệu quản lý chất lượng khác được “dựng” lại, khiến ngày tháng trên hồ sơ không khớp với thời gian thực hiện thực tế, hành vi có thể rơi vào điểm đ khoản 4 Điều 23 với khung 60–80 triệu đồng. Việc định danh hành vi cụ thể thuộc thẩm quyền của người xử phạt; đây là cách hiểu của chúng tôi để nhà thầu thấy rủi ro.
  • Nhật ký là chứng cứ chéo cho khối lượng. Khối lượng nghiệm thu, thanh toán lớn hơn nhiều so với tổng khối lượng ghi trong nhật ký là dấu hiệu mà người kiểm tra có thể dùng để xem xét khoản 3 Điều 31. Khoản 4 Điều 18 Nghị định 207 nghiêm cấm khai khống, khai tăng khối lượng.

Ví dụ tính mức phạt

Giả định Công ty xây dựng X (tổ chức) bị phát hiện không lập nhật ký cho gói thầu hạ tầng kỹ thuật đang thi công: khung phạt 10–20 triệu đồng và buộc ghi nhật ký theo quy định cho phần việc còn lại. Nếu các biên bản nghiệm thu công việc của tháng 9/2026 được lập lại với ngày tháng không khớp thời gian thực tế, hành vi này có khung riêng 60–80 triệu đồng (điểm đ khoản 4 Điều 23). Nếu người bị xử phạt là cá nhân có cùng hành vi, khung tương ứng bằng một nửa: 5–10 triệu đồng và 30–40 triệu đồng (điểm a khoản 4 Điều 5). Mức cụ thể trong khung do người có thẩm quyền quyết định theo tình tiết của vụ việc.

Thời hiệu và chuyển tiếp

Khoản 1 Điều 6 Nghị định 339 quy định thời hiệu xử phạt trong lĩnh vực xây dựng là 02 năm. Với vi phạm đã kết thúc, điểm a khoản 2 Điều 6 tính thời điểm chấm dứt hành vi từ ngày bàn giao công trình hoặc hạng mục công trình (trừ các hành vi tại điểm c khoản 3 Điều 13 và các Điều 33, 34, 35, 36); khoản 4 Điều 6 xác định ngày bàn giao là ngày cơ quan có thẩm quyền chấp thuận kết quả nghiệm thu (với công trình thuộc diện kiểm tra) hoặc ngày chủ đầu tư ký biên bản nghiệm thu hoàn thành/bàn giao. Với vi phạm đang thực hiện, thời hiệu tính từ thời điểm phát hiện (khoản 3 Điều 6). Theo Điều 89, hành vi đã xảy ra và kết thúc trước 26/8/2026 áp dụng văn bản có hiệu lực tại thời điểm vi phạm; hành vi xảy ra trước nhưng vẫn đang diễn ra sau ngày đó thì áp dụng Nghị định 339.

Góc nhìn từng bên: chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn giám sát

Góc chủ đầu tư, ban quản lý dự án

Chủ trì thỏa thuận hình thức, nội dung nhật ký trước ngày khởi công; ghi trong hợp đồng nhật ký giấy hay điện tử, chu kỳ in ký, ai giữ bản gốc, có nộp bản sao vào hồ sơ hoàn thành không. Khi ghi ý kiến giải quyết, ghi đủ họ tên, chức danh, ngày giờ — đó là dấu vết chứng minh chủ đầu tư đã “chủ trì, phối hợp giải quyết vướng mắc, phát sinh” theo khoản 13 Điều 16.

Góc nhà thầu, chỉ huy trưởng

Phân công người ghi, người soát; chốt nhật ký trong ngày; ký thỏa thuận về nhật ký với thầu phụ trước khi họ vào công trường; ghi ngay các ngày chờ mặt bằng, chờ thiết kế, chờ nghiệm thu kèm số văn bản đã gửi; đối chiếu nhật ký với khối lượng trước mỗi đợt thanh toán.

Góc tư vấn giám sát

Ghi kiến nghị cụ thể, có thời hạn xử lý; không xác nhận nội dung sai thực tế; dùng nhật ký làm dữ liệu cho báo cáo định kỳ (Phụ lục IVa) và mục đánh giá hồ sơ quản lý chất lượng trong báo cáo hoàn thành (Phụ lục IVb).

16 tình huống thực tế về nhật ký thi công và cách xử lý

Các tình huống dùng số liệu giả định. Cách xử lý dựa trên văn bản đã dẫn; với hồ sơ cụ thể, anh/chị cần đối chiếu hợp đồng và thỏa thuận về nhật ký của công trình.

Nhóm 1 — Lập, ghi và ký nhật ký

Tình huống 1: Nhà thầu phụ cọc khoan nhồi tự ghi nhật ký riêng

Thầu chính A giao 120 cọc khoan nhồi D1000 cho thầu phụ B. B tự ghi một quyển riêng, không có thỏa thuận với A; quyển của A bỏ trống cả giai đoạn thi công cọc.

Cách xử lý: mục 1 Phụ lục IIa yêu cầu thầu chính thỏa thuận với thầu phụ về trách nhiệm lập nhật ký phần việc của thầu phụ. A lập ngay văn bản thỏa thuận ghi nhận quyển của B là nhật ký phần cọc, A kiểm tra và ký soát định kỳ, đối chiếu từng ngày với biên bản nghiệm thu từng cọc, ghi tham chiếu sang quyển của A. Trách nhiệm chất lượng phần cọc vẫn thuộc A trước chủ đầu tư (khoản 3 Điều 4, khoản 11 Điều 15 Nghị định 207). Không “chép lại” nhật ký của B sang quyển của A với ngày tháng cũ.

Tình huống 2: Chủ đầu tư yêu cầu ký xác nhận từng trang

Ban quản lý dự án đòi ký từng trang hằng ngày; nhà thầu cho rằng Nghị định không bắt buộc.

Cách xử lý: Phụ lục IIa không bắt chủ đầu tư ký từng trang, nhưng mục 2 giao hai bên thỏa thuận hình thức nhật ký. Nếu biên bản thỏa thuận hoặc hợp đồng đã ghi chủ đầu tư ký theo ngày thì phải làm đúng; nếu chưa, hai bên chốt bằng văn bản (ký theo ngày, theo tuần, hay chỉ khi ghi ý kiến). Việc chờ chữ ký không được làm chậm việc ghi: nhà thầu vẫn chốt trang trong ngày, chủ đầu tư ký bổ sung kèm ngày ký thực tế.

Tình huống 3: Liên danh hai thành viên — một quyển hay hai quyển?

Liên danh C–D: C làm phần xây dựng, D làm kết cấu thép và lắp máy.

Cách xử lý: khoản 6 Điều 5 Nghị định 207 yêu cầu mỗi thành viên chịu trách nhiệm phần việc được phân định trong thỏa thuận liên danh. Theo cách hiểu của chúng tôi, rõ ràng nhất là mỗi thành viên ghi nhật ký phạm vi của mình (hai quyển cùng mẫu, cùng quy tắc đánh số), C đứng đầu làm đầu mối tổng hợp. Nếu dùng một quyển chung, mỗi ngày phải có phần riêng của từng thành viên và người của thành viên nào ký phần của thành viên đó.

Tình huống 4: Thay chỉ huy trưởng giữa chừng

Tháng thứ 7 của dự án, nhà thầu thay chỉ huy trưởng; một số trang trước đó còn thiếu chữ ký soát.

Cách xử lý: mỗi người chỉ ký nội dung trong thời gian mình phụ trách. Chỉ huy trưởng cũ ký các trang còn thiếu trước khi bàn giao; nếu không thể, ghi rõ trong biên bản bàn giao nhiệm vụ. Nhà thầu cập nhật hệ thống quản lý thi công, thông báo chủ đầu tư (khoản 2 Điều 15) và ghi ngày thay đổi trên trang theo dõi nhân sự của nhật ký.

Nhóm 2 — Nội dung ghi và sửa sai

Tình huống 5: Phát hiện nhật ký bị ghi dồn 6 ngày trước đợt kiểm tra

Ngày 20, chỉ huy trưởng phát hiện nhật ký trống từ ngày 12 đến 17; ngày 22 cơ quan chuyên môn đến kiểm tra.

Cách xử lý: không “ghi lùi” bằng ngày tháng cũ. Ghi tại trang ngày 20 một mục “ghi bổ sung nội dung các ngày 12–17”, nêu lý do chậm ghi, nguồn dữ liệu (bảng chấm công, biên bản nghiệm thu, phiếu xuất vật liệu, ảnh hiện trường), người ghi, ngày ghi thực tế, có xác nhận của giám sát nếu được. Khoản 8 Điều 15 Nghị định 207 yêu cầu hồ sơ phù hợp thời gian thực hiện thực tế; ghi bổ sung minh bạch an toàn hơn nhiều so với tạo một chuỗi hồ sơ có ngày tháng “đẹp” nhưng sai — vốn có thể bị xem xét theo điểm đ khoản 4 Điều 23 Nghị định 339 (60–80 triệu đồng với tổ chức).

Tình huống 6: Ghi nhầm khối lượng bê tông 46 m³ thành 64 m³

Nhật ký ngày 3/11 ghi “đổ bê tông sàn tầng 4, 64 m³”, phiếu giao bê tông cộng lại 46 m³; chênh 18 m³.

Cách xử lý: gạch một đường lên số “64” (vẫn đọc được), ghi “46”, người ghi và người soát ký nháy, ghi ngày sửa và căn cứ (phiếu giao số…). Khối lượng thanh toán căn cứ khối lượng được giám sát và nhà thầu tính toán, xác nhận, đối chiếu thiết kế (khoản 2 Điều 18 Nghị định 207), không căn cứ một dòng nhật ký. Nếu đề nghị thanh toán dựa trên số sai lớn hơn thực tế, rủi ro thuộc khoản 3 Điều 31 Nghị định 339 (60–80 triệu đồng với tổ chức).

Tình huống 7: Tháng mưa nhiều và đề nghị điều chỉnh tiến độ

Tháng 10/2026 có 9 ngày mưa lớn phải dừng đổ bê tông và đào đất; hợp đồng cho phép điều chỉnh thời gian khi gặp thời tiết bất thường được xác nhận.

Cách xử lý: nhà thầu chỉ chứng minh được nếu nhật ký từng ngày ghi rõ mưa từ mấy giờ, công việc nào bị dừng, phần nào vẫn làm được. Ví dụ tính: 9 ngày dừng công việc găng × 0,8 ngày mất hiệu quả bình quân ≈ 7 ngày đề nghị gia hạn; con số này phải đối chiếu tiến độ được chấp thuận (khoản 1 Điều 19, khoản 4 Điều 16 Nghị định 207) và điều khoản hợp đồng. Nhật ký chỉ ghi “trời mưa” cả tháng, không có giờ và công việc bị ảnh hưởng, gần như không có giá trị.

Tình huống 8: Tai nạn lao động nhẹ, đội muốn “không ghi cho đỡ phiền”

Công nhân trượt chân trên sàn công tác tầng 2, bong gân cổ chân, nghỉ 3 ngày.

Cách xử lý: điểm b mục 3 Phụ lục IIa yêu cầu mô tả chi tiết tai nạn lao động và biện pháp khắc phục; không ghi là thiếu nội dung bắt buộc. Ghi thời điểm, vị trí, diễn biến, tình trạng người lao động, việc dừng công việc tại khu vực và biện pháp khắc phục. Khoản 9 Điều 15 Nghị định 207 yêu cầu dừng thi công khi có nguy cơ tai nạn; điểm e khoản 1 Điều 23 Nghị định 339 phạt 10–20 triệu đồng (tổ chức) nếu không dừng thi công khi đã xảy ra tai nạn làm người lao động bị thương nhẹ. Khai báo, điều tra tai nạn theo pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động (khoản 2 Điều 49 Nghị định 207). Xem thêm bài lập kế hoạch quản lý an toàn lao động trên công trường.

Tình huống 9: Giám sát ghi yêu cầu dừng lấp đất, nhà thầu không đồng ý

Giám sát ghi: “Đề nghị dừng lấp đất hố móng M5 do chưa nghiệm thu lớp chống thấm”. Nhà thầu cho rằng đã có biên bản nghiệm thu hôm trước.

Cách xử lý: không xóa hoặc bỏ qua kiến nghị. Nhà thầu ghi ý kiến của mình ngay dòng tiếp theo, kèm số biên bản; nếu vẫn khác ý kiến, chủ đầu tư ghi ý kiến giải quyết (điểm d mục 3 Phụ lục IIa). Trong lúc chờ, nên tạm dừng phần lấp đất liên quan vì giám sát có quyền yêu cầu tạm dừng khi xét thấy chất lượng không bảo đảm (điểm h khoản 1 Điều 20 Nghị định 207).

Nhóm 3 — Nhật ký điện tử và lưu trữ

Tình huống 10: Dùng nhật ký điện tử, đoàn kiểm tra yêu cầu bản giấy

Dự án dùng phần mềm nhật ký theo thỏa thuận; đoàn kiểm tra yêu cầu bản giấy 4 tháng gần nhất.

Cách xử lý: khoản 2 Điều 11 Nghị định 207 yêu cầu hồ sơ điện tử được trích xuất, in thành bản giấy và được chủ đầu tư xác nhận. Nhà thầu xuất bản in theo ngày (đủ tên người ghi, thời điểm ghi, lịch sử chỉnh sửa nếu có), chủ đầu tư ký xác nhận. Bài học: thử chức năng xuất bản in trước khi chọn phần mềm.

Tình huống 11: File Excel nhật ký dùng chung bị nghi sửa sau tranh chấp

Nhật ký ghi trên một file Excel chia sẻ. Khi tranh chấp tiến độ, chủ đầu tư cho rằng các ngày “chờ thiết kế” được thêm vào sau.

Cách xử lý: giá trị chứng minh phụ thuộc việc chứng minh thời điểm ghi và người ghi — yêu cầu về tính chính xác, trung thực, bảo mật, lưu trữ an toàn tại điểm b khoản 1 Điều 11. Không có bản in đã ký theo chu kỳ hay lịch sử phiên bản, nhà thầu phải dựa vào chứng cứ khác (thư điện tử, văn bản đã gửi chủ đầu tư, biên bản giao ban). Nếu dùng Excel, phải in và ký theo ngày hoặc tuần.

Tình huống 12: Mất quyển nhật ký do kho công trường bị ngập

Sau trận lũ, quyển nhật ký số 3 (tháng 6–8) ướt hoàn toàn.

Cách xử lý: lập ngay biên bản sự việc có xác nhận của chủ đầu tư và giám sát; tập hợp bản scan (nếu có), báo cáo định kỳ của giám sát (Phụ lục IVa), biên bản nghiệm thu, báo cáo của nhà thầu cùng kỳ để lập hồ sơ tái lập, ghi rõ là hồ sơ tái lập và căn cứ. Không ghi lại một quyển “mới” với ngày tháng cũ. Nghĩa vụ lưu trữ thuộc khoản 17 Điều 15 Nghị định 207; không lưu trữ hoặc lưu trữ không đầy đủ có thể bị xem xét theo điểm c khoản 1 Điều 36 Nghị định 339, nên biên bản sự việc là tài liệu quan trọng.

Nhóm 4 — Chuyển tiếp, kiểm tra, xử phạt và tranh chấp

Tình huống 13: Công trình khởi công trước 01/7/2026 đang dùng mẫu nhật ký cũ

Công trình khởi công tháng 3/2026, mẫu nhật ký in căn cứ theo hệ thống văn bản cũ. Chủ đầu tư hỏi có phải làm lại toàn bộ.

Cách xử lý: không làm lại phần đã ghi — viết lại sẽ làm mất chính giá trị bản ghi gốc. Nghị định 06/2021/NĐ-CP đã hết hiệu lực từ 01/7/2026 và Điều 53 Nghị định 207 không có quy định chuyển tiếp riêng cho nhật ký; theo cách hiểu của chúng tôi, phần ghi từ ngày 01/7/2026 phải đáp ứng Phụ lục IIa. Lập biên bản bổ sung thỏa thuận, xác nhận mẫu đang dùng đã bao quát bốn nhóm nội dung (bổ sung trường còn thiếu), sửa căn cứ trên trang thông tin chung từ ngày áp dụng. Xem thêm bài về quy định chuyển tiếp.

Tình huống 14: Đoàn kiểm tra phát hiện nhật ký không khớp biên bản nghiệm thu

Một công trình cấp II thuộc đối tượng kiểm tra công tác nghiệm thu tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 207 (giả định) được kiểm tra đợt 1 trong tối đa 2 đợt (điểm a khoản 3 Điều 27). Đoàn phát hiện 11 biên bản nghiệm thu cốt thép ghi các ngày mà nhật ký ghi “nghỉ mưa”, và nhật ký trống 9 ngày.

Cách xử lý và rủi ro: cơ quan chuyên môn ra văn bản thông báo kết quả kiểm tra trong không quá 10 ngày làm việc (điểm b khoản 3 Điều 27), nêu tồn tại. Rủi ro xử phạt: nhật ký lập không đúng quy định — điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị định 339, 10–20 triệu đồng với tổ chức; nếu xác định hồ sơ quản lý chất lượng không phù hợp thời gian thực tế — điểm đ khoản 4 Điều 23, 60–80 triệu đồng. Với cá nhân, các khung này bằng một nửa (5–10 triệu đồng và 30–40 triệu đồng). Nhà thầu giải trình bằng chứng cứ gốc (ảnh có thời gian, phiếu giao vật liệu), ghi bổ sung minh bạch các ngày trống; nếu biên bản thực sự sai ngày thì phối hợp chủ đầu tư, giám sát xử lý theo thực tế, không “chữa” bằng cách sửa nhật ký cho khớp biên bản.

Tình huống 15: Chậm 21 ngày vì chờ ý kiến thiết kế

Ngày 5/9, nhà thầu phát hiện cao độ đáy móng khu B sai khác 0,6 m so với hồ sơ khảo sát; văn bản xử lý của thiết kế đến ngày 26/9. Chủ đầu tư muốn phạt chậm tiến độ 21 ngày.

Cách xử lý: nếu nhật ký ngày 5/9 ghi rõ sai khác và kiến nghị của nhà thầu (nghĩa vụ “kịp thời thông báo” tại khoản 8 Điều 15), các ngày sau ghi “khu B dừng chờ ý kiến thiết kế, lực lượng chuyển sang khu A”, và văn bản ngày 26/9 được lưu kèm nhật ký (mục 4 Phụ lục IIa), nhà thầu có chuỗi chứng cứ liên tục cho thấy 21 ngày chậm của khu B không do lỗi của mình. Việc điều chỉnh thời gian vẫn theo hợp đồng; nhật ký là chứng cứ, không tự động tạo quyền gia hạn.

Tình huống 16: Nhà ở riêng lẻ 5 tầng và 8 tầng — có bắt buộc nhật ký?

Chủ nhà E xây nhà 5 tầng, không hầm; chủ nhà F xây nhà 8 tầng, 1 tầng hầm; cùng một đội thi công.

Cách xử lý: nhà 8 tầng thuộc trường hợp “từ 7 tầng trở lên” (điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị định 207), nên theo điểm c khoản 3 Điều 10 phải tổ chức thi công, giám sát theo Nghị định 207 — theo cách hiểu của chúng tôi, nhà thầu phải lập nhật ký theo Phụ lục IIa. Nhà 5 tầng chỉ thuộc diện được khuyến khích lập, lưu trữ hồ sơ (điểm b khoản 3 Điều 10); dù vậy, một quyển nhật ký đơn giản vẫn rất hữu ích khi tranh chấp với nhà liền kề về lún, nứt.

Checklist nhật ký thi công: trước khởi công và cuối mỗi tuần

Trước ngày khởi công

  1. Đã có biên bản (hoặc điều khoản hợp đồng) thỏa thuận hình thức và nội dung nhật ký giữa chủ đầu tư và nhà thầu (mục 2 Phụ lục IIa).
  2. Đã chọn mô hình nhật ký theo gói thầu hay toàn công trình; nếu nhiều gói thầu, đã thống nhất mẫu và quy tắc đánh số.
  3. Đã ký thỏa thuận về nhật ký với từng nhà thầu phụ; với liên danh, đã phân định phạm vi ghi của từng thành viên.
  4. Hệ thống quản lý thi công đã nêu người ghi, người soát, người quản lý hồ sơ thi công và đã thông báo cho chủ đầu tư (khoản 2 Điều 15).
  5. Quyển nhật ký đã đánh số trang, đóng dấu giáp lai (nếu thỏa thuận); trang thông tin chung có chữ ký mẫu.
  6. Nếu dùng nhật ký điện tử: đã thử chức năng xuất bản in theo ngày; đã thống nhất chu kỳ in, ký và nơi lưu bản gốc (Điều 11).
  7. Đã quy định cách sửa nội dung ghi sai và cách đánh số, lưu văn bản kỹ thuật kèm theo (mục 4 Phụ lục IIa).

Cuối mỗi tuần

Danh mục dưới đây là công cụ quản trị nội bộ do Viện đề xuất để chỉ huy trưởng hoặc cán bộ quản lý chất lượng tự soát, không phải biểu mẫu do Nghị định 207 ban hành:

  • Đủ số ngày trong tuần? Ngày không thi công đã ghi lý do chưa?
  • Mỗi ngày đã có: thời tiết/nhiệt độ, nhân công theo tổ đội, thiết bị huy động?
  • Công việc thi công có định vị được hạng mục – tầng/cao độ – trục – khối lượng?
  • Công việc được nghiệm thu trong tuần đã ghi và khớp số hiệu biên bản nghiệm thu?
  • Sự cố, hư hỏng, tai nạn lao động, vấn đề phát sinh (nếu có) đã ghi kèm biện pháp khắc phục, xử lý?
  • Kiến nghị của nhà thầu và của giám sát đã được ghi và có chữ ký của người nêu?
  • Ý kiến giải quyết của các bên liên quan đã được ghi lại?
  • Văn bản kỹ thuật phát hành trong tuần đã được lưu vào tập kèm theo và có tham chiếu trong nhật ký?
  • Không có trang trắng, không có trang bị xé; nội dung sửa (nếu có) vẫn đọc được chữ cũ và có ký nháy?
  • Tổng khối lượng trong nhật ký có khớp với khối lượng đề nghị nghiệm thu, thanh toán của kỳ?
  • Nếu dùng nhật ký điện tử: đã in và ký theo chu kỳ đã thỏa thuận chưa? Đã sao lưu chưa?
  • Quyển nhật ký đã được scan/chụp lưu ngoài công trường chưa?

Chỉ cần duy trì các câu hỏi này mỗi tuần, phần lớn lỗi nêu dưới đây sẽ không kịp tích tụ đến giai đoạn hoàn công.

Những sai lầm thường gặp khiến nhật ký mất giá trị

  1. Ghi dồn nhiều ngày — cùng nét chữ, cùng màu mực, số nhân công không đổi suốt tuần; trái nhịp “hàng ngày” của Phụ lục IIa và có thể làm hồ sơ lệch thời gian thực tế (khoản 8 Điều 15).
  2. Ghi chung chung — “thi công bình thường”, “an toàn đảm bảo” không cho biết làm gì, ở đâu, bao nhiêu.
  3. Nhật ký “một chiều” — chỉ có chữ ký nhà thầu, không có kiến nghị của giám sát và ý kiến giải quyết của các bên.
  4. Mâu thuẫn với biên bản nghiệm thu về ngày hoặc khối lượng.
  5. Bỏ sót sự cố, tai nạn lao động hoặc ghi sự việc mà không ghi biện pháp xử lý.
  6. Không lưu văn bản kỹ thuật kèm theo (mục 4 Phụ lục IIa).
  7. Không thỏa thuận mẫu trước khi thi công, không phân định với thầu phụ — giữa chừng đổi mẫu, chép lại nhật ký, phần việc chuyên ngành bị bỏ trắng.
  8. Vẫn in căn cứ Nghị định 06/2021/NĐ-CP (đã hết hiệu lực) trên bìa, dùng file Excel “tự động” sinh nội dung lặp lại, hoặc để bản gốc duy nhất ở công trường.

Kết luận

Nhật ký thi công theo Nghị định 207 không phải quyển sổ để hoàn thiện vào phút chót trước ngày nghiệm thu. Theo khoản 13 Điều 15 và Phụ lục IIa Nghị định 207/2026/NĐ-CP, đó là tài liệu do nhà thầu thi công lập, được chủ đầu tư và nhà thầu thống nhất hình thức, nội dung trước khi thi công, ghi hằng ngày về điều kiện thi công, nhân lực, thiết bị, công việc thi công và nghiệm thu, sự cố và vấn đề phát sinh, kiến nghị cùng ý kiến giải quyết của các bên; kèm theo là các văn bản kỹ thuật phát hành trên công trường. Từ 26/8/2026, Nghị định 339/2026/NĐ-CP đặt chế tài trực tiếp cho việc không có hoặc lập nhật ký không đúng quy định, và chế tài nặng hơn cho hồ sơ không phù hợp thời gian thực tế.

Giá trị của nhật ký nằm ở tính liên tục và tính trung thực. Một quyển nhật ký ghi đều, ghi cụ thể, khớp với biên bản nghiệm thu và có đủ xác nhận sẽ bảo vệ nhà thầu trong tranh chấp tiến độ, hỗ trợ chủ đầu tư khi được kiểm tra công tác nghiệm thu, và giúp đơn vị quản lý vận hành hiểu công trình mình tiếp nhận. Việc áp dụng cụ thể còn phụ thuộc loại, cấp công trình, cơ cấu gói thầu, thỏa thuận trong hợp đồng, vì vậy cần xem xét hồ sơ thực tế của từng dự án khi thiết kế mẫu nhật ký và quy trình kiểm soát. Tổng quan các nghĩa vụ khác của Nghị định xem bài Nghị định 207/2026/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình.

Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hồ sơ hiện trường cho chỉ huy trưởng, giám sát và ban quản lý dự án

Nhật ký thi công chỉ là một mắt xích trong bộ hồ sơ quản lý chất lượng; một dòng ghi sai có thể kéo theo cả chuỗi biên bản nghiệm thu bị đặt câu hỏi. Viện Nghiên Cứu Đào Tạo Bồi Dưỡng Cán Bộ tổ chức các khóa bồi dưỡng chỉ huy trưởng công trình, quản lý chất lượng công trình, giám sát thi công, cập nhật theo Luật Xây dựng 135/2025/QH15, Nghị định 207/2026/NĐ-CP và Nghị định 339/2026/NĐ-CP, theo hình thức học trực tiếp, học online hoặc đào tạo tại đơn vị với tình huống lấy từ chính dự án của doanh nghiệp. Danh mục khóa học xem tại trang khóa học xây dựng.

Sau khi hoàn thành khóa học, học viên được cấp chứng nhận hoàn thành khóa học theo tên khóa học đã tham gia. Chứng nhận hoàn thành khóa học không phải chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng; chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định hiện hành.

Cần chuẩn hóa mẫu nhật ký, quy trình hồ sơ hiện trường cho doanh nghiệp hoặc ban quản lý dự án? Liên hệ Viện để được tư vấn chương trình phù hợp.

VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ

  • Hotline / Zalo: 0904 889 859 (Ms. Hoa)
  • Email: daotao@viendaotaocanbo.edu.vn
  • Địa chỉ: BT164 Central St, Khu Sunrise L, KDT The Manor Central Park, Phường Định Công, TP. Hà Nội
  • Website: https://viendaotaocanbo.edu.vn

Văn bản sử dụng trong bài

  • Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/7/2026): Điều 42 (lưu trữ hồ sơ), Điều 56 (giám sát thi công), Điều 61 (nghĩa vụ nhà thầu thi công).
  • Nghị định 207/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng (hiệu lực từ 01/7/2026): khoản 3 Điều 4; khoản 4, khoản 6 Điều 5; Điều 10; Điều 11; khoản 1, 2, 8, 9, 11, 13, 15, 17 Điều 15; Điều 16; Điều 18; Điều 19; Điều 20; Điều 22; Điều 24; Điều 25; Điều 27; Điều 28; Điều 46; Điều 48; Điều 49; Điều 52; Điều 53; Phụ lục IIa, IIb, IV, VII.
  • Nghị định 217/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 01/7/2026): khoản 4 Điều 8 (Môi trường dữ liệu chung — CDE).
  • Nghị định 339/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng (hiệu lực từ 26/8/2026): khoản 4 Điều 5; Điều 6; Điều 23; Điều 31; Điều 35; Điều 36; Điều 89; Điều 90.
  • Nghị định 06/2021/NĐ-CP và Nghị định 16/2022/NĐ-CP — chỉ nhắc với tính chất lịch sử; đã hết hiệu lực lần lượt từ 01/7/2026 và 26/8/2026.

Nội dung được biên soạn bởi Ban Đào tạo – Viện Nghiên Cứu Đào Tạo Bồi Dưỡng Cán Bộ trên cơ sở đối chiếu Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, Nghị định 207/2026/NĐ-CP (kèm Phụ lục II, IV, VII), Nghị định 217/2026/NĐ-CP và Nghị định 339/2026/NĐ-CP tại thời điểm 05/10/2026. Bài viết mang tính tham khảo; với công trình cụ thể, cần căn cứ hợp đồng xây dựng, thỏa thuận về nhật ký giữa chủ đầu tư và nhà thầu và văn bản hướng dẫn mới (nếu có). Nghiêm cấm sao chép nội dung khi chưa được phép.

5,0/5 (5.846 đánh giá)

Bài viết liên quan

Các bài viết cùng nhóm chủ đề để anh/chị tham khảo thêm trước khi lựa chọn khóa học hoặc dịch vụ phù hợp.