info@viendaotaocanbo.edu.vn 0904 889 859 – Ms Hoa Thứ 2 - Thứ 7: 07:30 - 17:30 --/--/---- · --:--:--

Sự cố công trình xây dựng: Trình tự báo cáo, bảo vệ hiện trường và xử lý trách nhiệm

Trình tự pháp lý khi xảy ra sự cố công trình xây dựng theo Điều 45-48 Nghị định 207/2026/NĐ-CP: báo cáo 24 giờ, bảo vệ hiện trường, giám định nguyên nhân, hồ sơ sự cố.

Sự cố công trình xây dựng: Trình tự báo cáo, bảo vệ hiện trường và xử lý trách nhiệm
Minh họa nội dung bài viết và hoạt động đào tạo, tư vấn của Viện.
Mục lục bài viết

Khi một sự cố công trình xảy ra, những giờ đầu tiên quyết định rất nhiều: cứu người, bảo đảm an toàn, bảo vệ hiện trường và báo cáo đúng nơi, đúng hạn. Làm sai trình tự trong giai đoạn này không chỉ gây nguy hiểm thêm mà còn làm mất chứng cứ để xác định nguyên nhân và phân định trách nhiệm về sau. Ngược lại, không phải sự cố nào cũng được xử lý giống nhau, và không phải mọi hư hỏng đều là “sự cố công trình” theo nghĩa pháp lý.

Bài viết này trình bày trình tự pháp lý khi xảy ra sự cố công trình xây dựng theo các Điều 45 đến 48 Nghị định 207/2026/NĐ-CP — văn bản có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Bài tập trung vào trình tự pháp lý sau khi xác định có sự cố; còn dấu hiệu kỹ thuật như lún, nứt, nghiêng và quy trình quan trắc, xử lý trước khi xác định sự cố được trình bày trong bài công trình lún, nứt, nghiêng trong thi công: quy trình quan trắc và xử lý.

Phân biệt sự cố công trình với các tình huống khác

Bước đầu tiên và quan trọng nhất là gọi đúng tên tình huống, vì mỗi tình huống có trình tự xử lý khác nhau. Cần phân biệt:

  • Sai sót thi công, khiếm khuyết, hư hỏng: các vấn đề chất lượng được xử lý trong quá trình thi công hoặc bảo hành, bảo trì, không nhất thiết là sự cố.
  • Dấu hiệu nguy hiểm, không bảo đảm an toàn: xử lý theo Điều 42 Nghị định 207/2026/NĐ-CP — kiểm tra hiện trạng, kiểm định, biện pháp khẩn cấp — nhưng chưa phải là sự cố đã xảy ra.
  • Sự cố công trình xây dựng: xử lý theo trình tự tại các Điều 45–48.
  • Sự cố gây mất an toàn lao động (Điều 49): gồm sự cố do máy, thiết bị thi công và tai nạn lao động, có trình tự riêng.
  • Sự cố do máy, thiết bị (Điều 50): có trình tự khai báo, giải quyết riêng.

Một điểm cần nhấn mạnh: không phải mọi vết nứt đều là sự cố. Nhiều vết nứt là hư hỏng thông thường được xử lý trong bảo trì; chỉ khi công trình xảy ra sự cố (hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn, sập đổ hoặc nguy cơ sập đổ) thì mới áp dụng trình tự sự cố. Việc gọi tên đúng giúp không hình sự hóa một hư hỏng nhỏ, cũng như không xem nhẹ một sự cố thực sự.

24 giờ đầu tiên: biện pháp khẩn cấp và bảo vệ hiện trường

Theo khoản 1 Điều 46, ngay khi xảy ra sự cố, chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm thực hiện các biện pháp kịp thời để tìm kiếm, cứu hộ, bảo đảm an toàn cho người và tài sản, hạn chế và ngăn ngừa các nguy hiểm có thể tiếp tục xảy ra; tổ chức bảo vệ hiện trường và thực hiện báo cáo. Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo, hỗ trợ tổ chức lực lượng tìm kiếm cứu nạn, bảo vệ hiện trường và thực hiện các công việc cần thiết khác.

Thứ tự ưu tiên trong những giờ đầu rất rõ ràng: người trước, tài sản sau, chứng cứ song song. Cụ thể là tìm kiếm cứu hộ và bảo đảm an toàn tính mạng; ngăn ngừa nguy hiểm tiếp tục xảy ra (khoanh vùng, di chuyển người và tài sản); rồi bảo vệ hiện trường phục vụ giám định. Việc bảo vệ hiện trường không mâu thuẫn với cứu hộ: cứu người vẫn là ưu tiên cao nhất, nhưng trong quá trình đó cần ghi nhận hiện trạng bằng ảnh, video để không mất chứng cứ.

Báo cáo sự cố: thông báo nhanh và báo cáo trong 24 giờ

Trình tự báo cáo theo Điều 45 gồm hai bước với hai mốc thời gian khác nhau:

  • Thông báo nhanh nhất (khoản 1 Điều 45): ngay sau khi xảy ra sự cố, bằng biện pháp nhanh nhất, chủ đầu tư thông báo về sự cố (tên và vị trí công trình, sơ bộ về sự cố và thiệt hại nếu có) cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra sự cố và cơ quan cấp trên của mình (nếu có). Ngay sau khi nhận thông tin, Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
  • Báo cáo bằng văn bản trong vòng 24 giờ (khoản 2 Điều 45): trong vòng 24 giờ kể từ khi xảy ra sự cố, chủ đầu tư báo cáo bằng văn bản tới Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố. Đối với tất cả các sự cố có thiệt hại về người, chủ đầu tư gửi báo cáo cho Bộ Xây dựng và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khác.

Nội dung báo cáo bằng văn bản gồm: tên công trình, vị trí xây dựng, quy mô; tên các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng; mô tả về sự cố, tình trạng công trình khi xảy ra sự cố, thời điểm xảy ra; thiệt hại về người và tài sản (nếu có). Đối với sự cố công trình đi qua địa bàn 02 tỉnh trở lên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố gửi báo cáo cho bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành (khoản 3 Điều 45). Trường hợp sự cố xảy ra trong quá trình khai thác, sử dụng, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng công trình thực hiện thông báo và báo cáo theo khoản 1, khoản 2 Điều 45 (khoản 5 Điều 45).

Giải quyết sự cố: cơ quan chủ trì và thu thập chứng cứ

Theo Điều 46, cơ quan chủ trì giải quyết sự cố là bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành (đối với công trình do bộ là cơ quan chủ quản) hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với các công trình còn lại trên địa bàn); Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã. Cơ quan chủ trì có trách nhiệm: xem xét, quyết định dừng hoặc tạm dừng thi công hoặc khai thác, sử dụng tùy mức độ và phạm vi ảnh hưởng; quyết định việc phá dỡ, thu dọn hiện trường; thông báo kết quả giám định nguyên nhân; xử lý trách nhiệm các bên.

Một yêu cầu bắt buộc về chứng cứ: theo điểm b khoản 3 Điều 46, việc phá dỡ, thu dọn hiện trường chỉ được thực hiện trên cơ sở bảo đảm an toàn và sau khi các bên liên quan đã chụp ảnh, quay phim, thu thập chứng cứ, ghi chép các tư liệu cần thiết phục vụ giám định nguyên nhân và lập hồ sơ sự cố. Đây là lý do vì sao không được vội vàng dọn dẹp hiện trường trước khi ghi nhận đầy đủ — chứng cứ mất đi thì không thể phục hồi, và việc phân định nguyên nhân, trách nhiệm sẽ rơi vào bế tắc.

Giám định nguyên nhân sự cố

Theo Điều 47, thẩm quyền chủ trì tổ chức giám định nguyên nhân sự cố thuộc về bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tùy loại công trình. Cơ quan có thẩm quyền thành lập Tổ điều tra sự cố gồm đại diện các đơn vị của cơ quan chủ trì, các cơ quan liên quan và chuyên gia về những chuyên ngành kỹ thuật liên quan; khi cần thiết, chỉ định tổ chức kiểm định thực hiện giám định chất lượng công trình phục vụ đánh giá nguyên nhân. Nội dung, trình tự kiểm định và giám định thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng tại Điều 4 và Điều 5 Thông tư 32/2026/TT-BXD.

Nội dung giám định nguyên nhân sự cố (khoản 3 Điều 47) gồm: thu thập hồ sơ, tài liệu, số liệu kỹ thuật liên quan và thực hiện các công việc chuyên môn để xác định nguyên nhân; đánh giá mức độ an toàn của công trình sau sự cố; phân định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan; lập hồ sơ giám định nguyên nhân sự cố. Về chi phí (khoản 4 Điều 47): sự cố trong thi công do chủ đầu tư chi trả trước, sau khi có kết quả giám định thì tổ chức, cá nhân gây ra sự cố chịu chi phí; sự cố trong khai thác do chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng chi trả trước; trường hợp bất khả kháng thì chi phí thực hiện theo hợp đồng xây dựng hoặc do chủ sở hữu, chủ quản lý, sử dụng chi trả.

Khắc phục sự cố và hồ sơ sự cố

Sau giám định, chủ đầu tư, nhà thầu thi công (trong thi công) hoặc chủ sở hữu, chủ quản lý, sử dụng (trong khai thác) có trách nhiệm khắc phục sự cố theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi khắc phục, cơ quan có thẩm quyền quyết định việc tiếp tục thi công hoặc đưa công trình vào sử dụng (khoản 4 Điều 46). Đối với công trình phục vụ lợi ích cộng đồng cần khắc phục nhanh, sau khi thực hiện thu thập chứng cứ theo điểm b khoản 3 Điều 46, cơ quan chủ trì có thể cho phép tiếp tục thi công, khai thác và khắc phục sự cố đồng thời với quá trình giải quyết (khoản 5 Điều 46).

Hồ sơ sự cố lập theo Điều 48 gồm: biên bản kiểm tra hiện trường sự cố; các tài liệu về thiết kế và thi công xây dựng công trình liên quan đến sự cố; hồ sơ giám định nguyên nhân sự cố; các tài liệu liên quan đến quá trình giải quyết sự cố. Đây là bộ hồ sơ quan trọng cho việc phân định trách nhiệm và cho công tác quản lý về sau.

Trách nhiệm bồi thường và xử lý trách nhiệm

Theo khoản 6 Điều 46, tổ chức, cá nhân gây ra sự cố có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và chi phí cho việc khắc phục sự cố tùy theo tính chất, mức độ và phạm vi ảnh hưởng của sự cố. Nội dung này chỉ được diễn giải trong phạm vi quy định của Nghị định và pháp luật liên quan; bài viết không tự đặt ra mức phạt hay mức bồi thường cụ thể, vì việc xử lý vi phạm hành chính và bồi thường thiệt hại thực hiện theo pháp luật chuyên ngành tương ứng, căn cứ kết quả giám định và phân định trách nhiệm.

Phân biệt sự cố công trình với tai nạn lao động và sự cố máy, thiết bị

Theo Điều 49, sự cố gây mất an toàn lao động trong thi công xây dựng gồm hai loại: sự cố do máy, thiết bị phục vụ thi công; và tai nạn lao động xảy ra trong thi công. Cách xử lý khác nhau:

  • Sự cố do máy, thiết bị: việc khai báo, điều tra, báo cáo và giải quyết thực hiện theo Điều 50 Nghị định 207/2026/NĐ-CP; trường hợp sự cố do máy, thiết bị gây chết người hoặc làm bị thương nặng từ 2 người trở lên thì thực hiện theo pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
  • Tai nạn lao động: việc khai báo, điều tra, báo cáo và giải quyết thực hiện theo pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

Như vậy, không phải mọi tình huống mất an toàn trên công trường đều đi theo trình tự sự cố công trình của các Điều 45–48. Phân biệt đúng loại sự cố giúp áp dụng đúng trình tự và đúng cơ quan có thẩm quyền. Biện pháp bảo đảm an toàn trong thi công — nền tảng để phòng ngừa các sự cố này — xem bài biện pháp bảo đảm an toàn trong thi công theo Phụ lục III.

Sơ đồ xử lý 24 giờ đầu

Mốc thời gian Việc phải làm Căn cứ
Ngay khi xảy ra sự cố Cứu hộ, bảo đảm an toàn người và tài sản; ngăn nguy hiểm tiếp tục; bảo vệ hiện trường khoản 1 Điều 46
Ngay khi xảy ra sự cố Thông báo nhanh nhất cho UBND cấp xã và cơ quan cấp trên khoản 1 Điều 45
Trong vòng 24 giờ Báo cáo bằng văn bản tới UBND cấp tỉnh; sự cố có người thiệt hại thì gửi Bộ Xây dựng khoản 2 Điều 45
Trước khi phá dỡ, thu dọn Chụp ảnh, quay phim, thu thập chứng cứ, ghi chép tư liệu điểm b khoản 3 Điều 46
Sau đó Cơ quan chủ trì giải quyết; thành lập Tổ điều tra; giám định nguyên nhân Điều 46, Điều 47

Checklist hồ sơ sự cố

  • Đã thực hiện cứu hộ, bảo đảm an toàn và bảo vệ hiện trường.
  • Đã thông báo nhanh nhất cho UBND cấp xã và cơ quan cấp trên.
  • Đã báo cáo văn bản tới UBND cấp tỉnh trong 24 giờ; gửi Bộ Xây dựng nếu có thiệt hại về người.
  • Đã chụp ảnh, quay phim, thu thập chứng cứ trước khi phá dỡ, thu dọn hiện trường.
  • Biên bản kiểm tra hiện trường sự cố đã lập.
  • Tài liệu thiết kế, thi công liên quan đến sự cố đã tập hợp.
  • Hồ sơ giám định nguyên nhân sự cố đã có.
  • Tài liệu về quá trình giải quyết và khắc phục sự cố đã lưu.

Xử lý công trình có dấu hiệu nguy hiểm (trước khi thành sự cố) theo Điều 42 gắn với quy trình bảo trì — xem bài quy trình bảo trì công trình xây dựng và bài công trình hết thời hạn sử dụng có được tiếp tục khai thác không. Ranh giới trách nhiệm giữa các bên khi xảy ra sự cố xem bài ranh giới trách nhiệm giữa chủ đầu tư, ban quản lý dự án và nhà thầu. Tổng thể quy định xem bài trụ cột Nghị định 207/2026/NĐ-CP.

Những sai lầm thường gặp trong 24 giờ đầu

Áp lực và hoảng loạn khi sự cố xảy ra dễ dẫn tới những sai lầm làm hỏng cả quá trình xử lý về sau. Sai lầm đầu tiên là vội vàng dọn dẹp hiện trường để “khắc phục nhanh” mà chưa chụp ảnh, quay phim, thu thập chứng cứ. Khi hiện trường bị xáo trộn, việc giám định nguyên nhân trở nên khó khăn, và bên chịu trách nhiệm có thể thoát trách nhiệm vì thiếu bằng chứng. Điểm b khoản 3 Điều 46 quy định rõ phải thu thập chứng cứ trước khi phá dỡ, thu dọn — trừ khi việc thu dọn là cần thiết ngay để cứu người.

Sai lầm thứ hai là báo cáo chậm hoặc báo cáo sai cấp. Có đơn vị chỉ báo cáo nội bộ mà không thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, hoặc để quá 24 giờ mới báo cáo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Với sự cố có thiệt hại về người mà không gửi báo cáo cho Bộ Xây dựng cũng là thiếu sót. Trình tự và mốc thời gian tại Điều 45 cần được xem như một quy trình bắt buộc, không phải thủ tục hành chính có thể trì hoãn.

Sai lầm thứ ba là gọi sai tên tình huống. Có trường hợp một tai nạn lao động lại được xử lý theo trình tự sự cố công trình, hoặc ngược lại một sự cố công trình nghiêm trọng lại bị coi nhẹ như hư hỏng thông thường. Việc xác định đúng đây là sự cố công trình (Điều 45–48), sự cố do máy thiết bị (Điều 50) hay tai nạn lao động (theo pháp luật an toàn, vệ sinh lao động) quyết định trình tự và cơ quan có thẩm quyền áp dụng.

Tình huống minh họa: xử lý một sự cố trong thi công

Trong quá trình thi công, một bộ phận kết cấu bị sập cục bộ, có người bị thương. Chủ đầu tư và nhà thầu ngay lập tức tổ chức cứu hộ người bị thương, khoanh vùng nguy hiểm, di chuyển người và thiết bị ra khỏi khu vực, đồng thời phân công người chụp ảnh và quay phim toàn bộ hiện trường. Bằng biện pháp nhanh nhất, chủ đầu tư thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan cấp trên. Vì có thiệt hại về người, trong vòng 24 giờ chủ đầu tư gửi báo cáo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và gửi Bộ Xây dựng, với đầy đủ nội dung theo khoản 2 Điều 45.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì giải quyết, quyết định tạm dừng thi công phần công trình liên quan và thành lập Tổ điều tra sự cố. Tổ điều tra chỉ định một tổ chức kiểm định độc lập thực hiện giám định chất lượng phục vụ xác định nguyên nhân, theo Điều 4 và Điều 5 Thông tư 32/2026/TT-BXD. Kết quả giám định xác định nguyên nhân và phân định trách nhiệm; chi phí giám định do chủ đầu tư ứng trước, sau đó tổ chức gây ra sự cố chịu theo khoản 4 Điều 47. Trên cơ sở kết luận, các bên khắc phục sự cố; cơ quan chủ trì quyết định cho phép tiếp tục thi công sau khi khắc phục xong. Toàn bộ diễn biến được lập thành hồ sơ sự cố theo Điều 48. Nhờ giữ đúng trình tự và bảo vệ chứng cứ ngay từ đầu, việc phân định trách nhiệm diễn ra rõ ràng, tránh tranh chấp kéo dài — đó là giá trị của việc xử lý sự cố đúng quy định ngay trong những giờ đầu tiên.

Văn bản sử dụng trong bài

  • Nghị định 207/2026/NĐ-CP: Điều 42; Điều 45; Điều 46; Điều 47; Điều 48; Điều 49; Điều 50.
  • Thông tư 32/2026/TT-BXD: Điều 4 (kiểm định xây dựng); Điều 5 (trình tự và thông báo kết luận giám định xây dựng).
  • Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động: áp dụng đối với tai nạn lao động và sự cố do máy, thiết bị gây chết người hoặc bị thương nặng từ 2 người trở lên.
  • Nghị định 06/2021/NĐ-CP: đã hết hiệu lực từ ngày 01/7/2026 theo Điều 52 Nghị định 207/2026/NĐ-CP; chỉ nhắc để đối chiếu với quy định về sự cố theo hệ thống cũ.

Nội dung mang tính hệ thống hóa và hướng dẫn tham khảo; việc áp dụng cần căn cứ hồ sơ, loại công trình, nguồn vốn và quy định chuyên ngành của từng trường hợp. Hotline hỗ trợ nghiệp vụ: 0904 889 859.

5,0/5 (7.384 đánh giá)

Cần tư vấn khóa học hoặc hồ sơ chuyên môn?

Gửi nhu cầu để bộ phận tư vấn hỗ trợ chọn chương trình học hoặc hướng rà soát hồ sơ phù hợp.

Chia sẻ bài viết

Facebook LinkedIn X Telegram

Bài viết liên quan

Các bài viết cùng nhóm chủ đề để anh/chị tham khảo thêm trước khi lựa chọn khóa học hoặc dịch vụ phù hợp.