Trả lời nhanh: theo khoản 3 Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP, người giám sát thi công phải thực hiện nghiệm thu công việc xây dựng trong không quá 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị nghiệm thu của nhà thầu; nếu không đồng ý nghiệm thu thì thông báo lý do bằng văn bản cho nhà thầu. Mốc 24 giờ là thời hạn để kiểm tra và trả lời, không phải nghĩa vụ phải ký đồng ý. Khi công việc chưa đủ điều kiện (thiếu kết quả thí nghiệm, sai thiết kế, vật liệu chưa được nghiệm thu, đối tượng đã bị che khuất), cách làm đúng là trả lời trong hạn bằng văn bản nêu lý do và yêu cầu khắc phục. Nếu sai phạm tạo nguy cơ mất an toàn hoặc là thi công sai thiết kế, giám sát còn có căn cứ tạm dừng thi công.
Bốn giờ chiều, nhà thầu báo sáng mai đổ bê tông sàn tầng 3. Phiếu đề nghị nghiệm thu cốt thép đã đặt trên bàn giám sát từ trưa. Nhưng kết quả thí nghiệm kéo thép của lô đang lắp trên sàn chưa về; nhật ký thi công mấy ngày gần nhất còn bỏ trống; bản vẽ dùng ở hiện trường là bản in cũ, chưa có phần điều chỉnh thép gia cường được duyệt tuần trước. Chỉ huy trưởng gọi điện: “Anh ký giúp, xe bê tông đặt rồi, giấy tờ tôi bổ sung sau.” Cách xử lý tình huống này quyết định giá trị của toàn bộ chuỗi hồ sơ chất lượng phía sau.
Câu hỏi thực chất không phải “ký hay không ký”, mà là trước khi ký nghiệm thu một công việc xây dựng, người trực tiếp giám sát phải kiểm tra những gì và đối chiếu vào tài liệu nào. Trả lời được bằng một danh mục cụ thể thì việc chấp nhận hay từ chối nghiệm thu không còn là chuyện cảm tính, mà là kết luận có căn cứ, ghi được ra văn bản và bảo vệ được khi bị kiểm tra.
Danh mục đó được dựng lại dưới đây theo Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP, đặt trong bối cảnh trách nhiệm giám sát tại Điều 20 cùng nghị định. Văn bản này ban hành ngày 15/6/2026, hiệu lực từ 01/7/2026, quy định chi tiết Luật Xây dựng số 135/2025/QH15. Từ mốc đó, Nghị định 06/2021/NĐ-CP đã hết hiệu lực từ 01/7/2026 theo Điều 52 Nghị định 207/2026/NĐ-CP, nên mẫu biên bản và checklist nội bộ dựng trên nền nghị định cũ cần được rà lại. Khung tổng thể của nghị định được trình bày trong bài Nghị định 207/2026 về quản lý chất lượng công trình; ở đây chỉ đi vào một thao tác lặp lại hàng trăm lần trên mỗi công trường.
Hai nguyên tắc chi phối chữ ký nghiệm thu
Nguyên tắc thứ nhất nằm ở khoản 1 Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP: người trực tiếp giám sát thi công xây dựng công trình và người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công của nhà thầu thực hiện nghiệm thu công việc xây dựng tại công trường và chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá chất lượng công việc xây dựng đã được thi công, nghiệm thu. Trách nhiệm này gắn với con người cụ thể đã ký, không tan vào tập thể: khi hồ sơ được lôi ra sau vài năm — lúc thanh tra, quyết toán, hoặc tệ hơn là lúc xảy ra sự cố — người phải giải trình về kết luận “đạt” chính là người đã đặt bút.
Nguyên tắc thứ hai đi theo chiều ngược lại và thường bị hiểu sai: khoản 3 Điều 4 Nghị định 207/2026/NĐ-CP khẳng định việc nghiệm thu của chủ đầu tư không thay thế và không làm giảm trách nhiệm của nhà thầu về chất lượng công trình do mình thi công; nhà thầu chính còn chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về phần việc do thầu phụ thực hiện. Cộng hai nguyên tắc lại: chữ ký nghiệm thu không chuyển rủi ro chất lượng từ nhà thầu sang giám sát, nhưng tạo thêm một lớp trách nhiệm mới cho chính người ký. Ký sai không giải phóng nhà thầu, chỉ làm hai bên cùng có lỗi — nên lập luận “nhà thầu chịu trách nhiệm chính nên tôi ký cũng không sao” là hiểu nhầm tốn kém.
Đối tượng và thời điểm nghiệm thu công việc xây dựng
Theo khoản 1 Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP, việc nghiệm thu công việc được thực hiện căn cứ vào kế hoạch tổ chức thí nghiệm, kiểm tra đối với các công việc xây dựng và tiến độ thi công thực tế trên công trường. Chi tiết này dễ bị lướt qua nhưng có sức nặng nghiệp vụ: danh mục công việc phải nghiệm thu và các phép thí nghiệm đi kèm không do người giám sát tự nghĩ ra vào phút chót, mà phải được hoạch định từ trước. Kế hoạch này lập theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng tại Thông tư 32/2026/TT-BXD. Công trường không có kế hoạch đó thì việc nghiệm thu gần như chắc chắn bị làm theo thói quen — chỗ nhớ thì làm, chỗ quên thì bỏ.
Kết quả nghiệm thu được xác nhận bằng biên bản. Theo khoản 4 Điều 22, biên bản được lập cho từng công việc hoặc lập chung cho nhiều công việc của một hạng mục công trình theo trình tự thi công — cho phép gộp hợp lý các công việc liên tiếp trong một dây chuyền, nhưng không cho gộp bừa những công việc rời rạc về thời gian và vị trí. Nội dung chủ yếu gồm: tên công việc được nghiệm thu; thời gian và địa điểm; thành phần ký; kết luận nghiệm thu, nêu rõ chấp nhận hay không chấp nhận, đồng ý cho triển khai công việc tiếp theo, yêu cầu sửa chữa, hoàn thiện và các yêu cầu khác nếu có; chữ ký, họ tên, chức vụ người ký; phụ lục kèm theo nếu có.
Về thời điểm, công việc bị che khuất phải được nghiệm thu trước khi bước thi công kế tiếp phủ lên: cốt thép trước khi đổ bê tông, chống thấm trước khi lát, hệ thống ngầm trước khi lấp đất. Đây là hệ quả tất yếu của khoản 2 Điều 22 — nếu đối tượng nghiệm thu không còn quan sát và đo đạc được thì người giám sát không thể “kiểm tra các công việc xây dựng được yêu cầu nghiệm thu” như luật đòi hỏi, và chữ ký chỉ còn là ghi nhận giấy tờ.
Người trực tiếp giám sát phải làm gì trước khi ngồi vào bàn ký
Muốn hiểu vì sao danh mục kiểm tra lại dài đến vậy, cần nhìn sang Điều 20 Nghị định 207/2026/NĐ-CP về nội dung giám sát thi công. Nghiệm thu không phải hoạt động độc lập, mà là điểm kết của một chuỗi việc giám sát đã diễn ra trước đó.
Điểm d khoản 1 Điều 20 giao cho giám sát việc kiểm tra và chấp thuận vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng, thiết bị theo quy định tại khoản 5 Điều 14. Đi kèm là khoản 6 Điều 14: vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị phải được người giám sát của chủ đầu tư nghiệm thu trước khi đưa vào sử dụng, kết quả lập thành biên bản. Nghĩa là trước biên bản nghiệm thu công việc đã phải có biên bản nghiệm thu vật liệu của đúng lô hàng dùng cho công việc đó — cách tổ chức khâu này được trình bày riêng trong bài kiểm soát vật liệu đầu vào trong thi công.
Điểm i khoản 1 Điều 20 yêu cầu giám sát kiểm tra phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, công tác lấy mẫu, lưu mẫu và công tác thí nghiệm phù hợp với giai đoạn thi công; kiểm tra, đánh giá kết quả thí nghiệm vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng, kết quả quan trắc và các tài liệu khác có liên quan phục vụ nghiệm thu. Cụm “phục vụ nghiệm thu” nằm ngay trong điều luật: kết quả thí nghiệm và quan trắc là đầu vào bắt buộc của quyết định nghiệm thu, không phải phụ lục cho đẹp hồ sơ.
Điểm l khoản 1 Điều 20 gói lại phần việc: thực hiện nghiệm thu theo khoản 6 Điều 14 và các Điều 22, 23, 24; kiểm tra và xác nhận khối lượng thi công xây dựng hoàn thành; kiểm tra và xác nhận bản vẽ hoàn công — ba việc phải khớp nhau. Điểm h khoản 1 Điều 20 trao cho giám sát quyền yêu cầu nhà thầu tạm dừng thi công khi xét thấy chất lượng không bảo đảm yêu cầu kỹ thuật hoặc biện pháp thi công không bảo đảm an toàn — công cụ pháp lý cho đúng tình huống mở đầu bài viết. Vị trí của tư vấn giám sát trong hệ thống kiểm soát chất lượng được phân tích ở bài vai trò của tư vấn giám sát trong kiểm soát chất lượng công trình.
Khoản 3 Điều 20 còn buộc tổ chức, cá nhân giám sát lập báo cáo về công tác giám sát thi công theo nội dung quy định tại Phụ lục IV Nghị định 207/2026/NĐ-CP gửi chủ đầu tư và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của báo cáo; báo cáo lập định kỳ hoặc theo giai đoạn thi công, và khi tổ chức nghiệm thu giai đoạn, nghiệm thu hoàn thành. Nội dung chi tiết của phụ lục cần tra cứu trực tiếp trong nghị định.
Checklist 10 điểm kiểm tra trước khi ký nghiệm thu công việc xây dựng
Bảng dưới đây chuyển các quy định vừa nêu thành danh mục thao tác: điểm phải kiểm, căn cứ, tài liệu đối chiếu và dấu hiệu cho thấy điểm đó chưa đạt — tức tín hiệu để dừng lại thay vì ký. Đây là khung chung; từng loại công việc còn phải bổ sung theo thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật và hợp đồng của dự án.
| Điểm kiểm tra | Căn cứ | Tài liệu đối chiếu | Dấu hiệu chưa đạt |
|---|---|---|---|
| 1. Đối tượng nghiệm thu | Khoản 1, điểm a khoản 4 Điều 22 | Phiếu đề nghị nghiệm thu; kế hoạch tổ chức thí nghiệm, kiểm tra | Tên công việc chung chung, không xác định được vị trí, trục, cao độ |
| 2. Hồ sơ thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật | Khoản 2 Điều 22 | Bản vẽ thi công được phê duyệt (bản hiệu lực mới nhất); chỉ dẫn kỹ thuật; văn bản điều chỉnh thiết kế | Hiện trường dùng bản in cũ; thay đổi theo miệng, chưa có văn bản duyệt |
| 3. Quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng | Khoản 2 Điều 22 | Danh mục quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng cho công trình | Dẫn tiêu chuẩn đã bị thay thế; sai số vượt dung sai cho phép |
| 4. Vật liệu, cấu kiện, thiết bị | Khoản 2 Điều 22; điểm d khoản 1 Điều 20; khoản 6, 7 Điều 14 | Biên bản nghiệm thu vật liệu; chứng nhận chất lượng; chứng từ xuất xứ; chứng nhận hợp quy | Lô dùng thực tế khác lô có hồ sơ; chưa nghiệm thu vật liệu đầu vào |
| 5. Kết quả thí nghiệm | Khoản 2 Điều 22; điểm i khoản 1 Điều 20 | Phiếu kết quả thí nghiệm; biên bản lấy mẫu, lưu mẫu | Chưa có kết quả khi nghiệm thu; mẫu không truy được về lô, cấu kiện |
| 6. Kết quả quan trắc (nếu có) | Khoản 2 Điều 22; điểm e, i khoản 1 Điều 20; Điều 7 | Đề cương quan trắc; số liệu kỳ gần nhất; ngưỡng cảnh báo theo thiết kế | Số liệu vượt ngưỡng cảnh báo nhưng vẫn đề nghị nghiệm thu, chuyển bước |
| 7. Chất lượng thực tế hiện trường | Khoản 1, khoản 2 Điều 22 | Kết quả kiểm tra trực tiếp tại công trường; số liệu đo, ảnh có mốc thời gian | Nghiệm thu qua hồ sơ; đối tượng đã bị che khuất, không kiểm chứng được |
| 8. Bản vẽ, nhật ký, hồ sơ liên quan | Điểm l khoản 1 Điều 20; khoản 13 Điều 15 và Phụ lục IIa, IIb | Nhật ký thi công; bản vẽ hoàn công; xác nhận khối lượng hoàn thành | Nhật ký bỏ trống hoặc ghi lùi; ngày tháng lệch giữa các hồ sơ |
| 9. Thành phần ký | Khoản 5, 6, 7, 8 Điều 22 | Quyết định phân công giám sát viên, người phụ trách kỹ thuật thi công; hợp đồng thầu phụ, liên danh | Ký thay, ký hộ; thiếu chữ ký phụ trách kỹ thuật của nhà thầu phụ |
| 10. Điều kiện chuyển bước | Điểm d khoản 4 Điều 22 | Kết luận nghiệm thu trong biên bản; danh mục tồn tại, yêu cầu khắc phục | Kết luận không nêu rõ chấp nhận hay không, có cho làm bước sau hay không |
Giải thích ngắn từng điểm
1. Đối tượng nghiệm thu. Điểm a khoản 4 Điều 22 yêu cầu biên bản ghi tên công việc được nghiệm thu; thực tế cần cụ thể hơn tên gọi chung — “cốt thép sàn tầng 3, trục A–D/1–5” chứ không phải “cốt thép sàn”. Đối tượng mờ thì mọi kết luận phía sau mờ theo, và khi cần truy lại một vị trí có vấn đề sẽ không biết biên bản nào phủ vị trí đó.
2. Hồ sơ thiết kế và chỉ dẫn kỹ thuật. Khoản 2 Điều 22 đặt hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công và chỉ dẫn kỹ thuật được phê duyệt ở vị trí căn cứ đầu tiên; hai chữ “được phê duyệt” loại bỏ mọi bản vẽ chưa qua thủ tục. Sai lầm phổ biến không phải là không có bản vẽ, mà là đối chiếu nhầm phiên bản — hiện trường làm theo bản mới, giám sát cầm bản cũ hoặc ngược lại.
3. Quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng. Cũng theo khoản 2 Điều 22, quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn được áp dụng là thước đo để kết luận “đạt”. Người giám sát cần biết chỉ tiêu nào của công việc đang xét được kiểm bằng tiêu chuẩn nào, dung sai bao nhiêu. Kết luận “đạt” mà không nêu được ngưỡng so sánh thì chỉ là ấn tượng thị giác.
4. Vật liệu, cấu kiện, thiết bị. Khoản 6 Điều 14 yêu cầu vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị phải được người giám sát của chủ đầu tư nghiệm thu trước khi đưa vào sử dụng, có biên bản riêng ghi rõ tên, chủng loại, khối lượng, số sê-ri của từng lô; khoản 7 Điều 14 liệt kê hồ sơ quản lý chất lượng đi kèm. Thao tác cần làm khi nghiệm thu công việc là truy ngược: vật liệu trong công việc này thuộc lô nào, lô đó đã có biên bản nghiệm thu đầu vào chưa. Chuỗi truy vết đứt thì biên bản nghiệm thu công việc mất nền móng.
5. Kết quả thí nghiệm. Khoản 2 Điều 22 nêu rõ kết quả kiểm tra, thí nghiệm chất lượng vật liệu, thiết bị là căn cứ để kiểm tra công việc được yêu cầu nghiệm thu; điểm i khoản 1 Điều 20 bổ sung nghĩa vụ kiểm tra phòng thí nghiệm, lấy mẫu, lưu mẫu và đánh giá kết quả. Tình huống “chưa có kết quả nhưng tiến độ gấp” được xử lý riêng trong bài thiếu kết quả thí nghiệm có được nghiệm thu không.
6. Kết quả quan trắc. Khi công trình thuộc diện phải quan trắc trong quá trình thi công, khoản 2 Điều 22 xếp kết quả quan trắc ngang hàng với kết quả thí nghiệm trong nhóm căn cứ nghiệm thu. Đề cương quan trắc thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng tại Thông tư 32/2026/TT-BXD. Số liệu vượt ngưỡng cảnh báo là tín hiệu dừng, không phải ghi chú đưa vào phụ lục rồi vẫn ký.
7. Chất lượng thực tế tại hiện trường. Khoản 1 Điều 22 quy định nghiệm thu công việc được thực hiện tại công trường. Nghiệm thu bằng cách đọc hồ sơ trong văn phòng ban chỉ huy là làm sai bản chất điều luật; kiểm tra thực tế cũng là cách duy nhất phát hiện độ vênh giữa hồ sơ và công trình.
8. Bản vẽ, nhật ký và hồ sơ liên quan. Điểm l khoản 1 Điều 20 buộc giám sát kiểm tra và xác nhận khối lượng thi công hoàn thành, kiểm tra và xác nhận bản vẽ hoàn công; khoản 13 Điều 15 buộc nhà thầu lập nhật ký thi công và bản vẽ hoàn công theo Phụ lục II Nghị định 207/2026/NĐ-CP. Ba loại tài liệu này phải kể cùng một câu chuyện về thời gian và khối lượng. Danh mục hồ sơ người làm giám sát cần quản lý xuyên suốt được liệt kê ở bài danh mục hồ sơ cần nắm khi làm tư vấn giám sát xây dựng.
9. Thành phần ký. Khoản 5 Điều 22 quy định biên bản nghiệm thu công việc do người trực tiếp giám sát thi công của chủ đầu tư và người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công của nhà thầu thi công hoặc nhà thầu chính ký; trường hợp có nhà thầu chính thì người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công của nhà thầu phụ cũng ký. Hợp đồng EPC áp dụng khoản 6, hợp đồng chìa khóa trao tay áp dụng khoản 7, nhà thầu liên danh áp dụng khoản 8 Điều 22 — trong đó người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công và người trực tiếp giám sát của từng thành viên liên danh ký cho phần việc do mình thực hiện.
10. Điều kiện chuyển bước thi công. Điểm d khoản 4 Điều 22 yêu cầu kết luận nghiệm thu nêu rõ chấp nhận hay không chấp nhận nghiệm thu, đồng ý cho triển khai các công việc tiếp theo, yêu cầu sửa chữa, hoàn thiện công việc đã thực hiện và các yêu cầu khác nếu có. Đây là chỗ biên bản trả lời câu hỏi cả công trường đang chờ: có được làm bước sau hay không.
Thời hạn 24 giờ và nghĩa vụ trả lời của người giám sát
Nhiều người giám sát nghĩ rằng khi hồ sơ chưa đủ thì cách an toàn nhất là im lặng, để đó, chờ nhà thầu bổ sung. Đây là một hiểu nhầm về nghĩa vụ. Khoản 3 Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định người giám sát thi công xây dựng phải thực hiện nghiệm thu công việc xây dựng trong khoảng thời gian không quá 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị nghiệm thu công việc xây dựng của nhà thầu thi công xây dựng. Trường hợp không đồng ý nghiệm thu thì phải thông báo lý do bằng văn bản cho nhà thầu thi công xây dựng.
Điều luật cân bằng hai phía. Với nhà thầu, nó chặn tình trạng đề nghị nghiệm thu bị ngâm vô thời hạn. Với người giám sát, nó biến việc từ chối thành hành vi hợp pháp và được bảo vệ — miễn là nêu được lý do bằng văn bản. Khi hồ sơ thiếu, phương án đúng vì vậy không phải ký cho xong, cũng không phải để im, mà là trả lời trong 24 giờ bằng văn bản nêu rõ lý do không đồng ý.
Mốc 24 giờ cũng đặt ra yêu cầu tổ chức công việc: thời điểm nhận đề nghị nghiệm thu phải được ghi nhận. Một sổ theo dõi ghi ngày giờ nhận, công việc, người đề nghị, ngày giờ trả lời và kết quả là công cụ đơn giản nhưng nhiều ban giám sát chưa làm, nên khi có tranh chấp thì không ai chứng minh được đề nghị đến lúc nào.
Câu chữ văn bản và cách nói ở công trường
Nhiều cách nói quen miệng ở công trường nghe giống quy định nhưng không có trong văn bản. Bảng dưới tách hai lớp để người giám sát biết đâu là nghĩa vụ pháp lý, đâu là thói quen hoặc thỏa thuận.
| Cách nói thường gặp | Văn bản quy định | Cách hiểu đúng |
|---|---|---|
| “Giám sát phải ký trong 24 giờ” | Thực hiện nghiệm thu trong không quá 24 giờ; không đồng ý thì thông báo lý do bằng văn bản (khoản 3 Điều 22) | Nghĩa vụ là kiểm tra và trả lời trong hạn, kết quả có thể là đồng ý hoặc không đồng ý |
| “Quá 24 giờ không trả lời là coi như đồng ý” | Khoản 3 Điều 22 không quy định hệ quả mặc nhiên đồng ý | Việc chậm trả lời là vi phạm thời hạn của người giám sát, không tự tạo ra biên bản nghiệm thu |
| “24 giờ tính từ lúc nhà thầu gọi điện báo” | Tính “kể từ khi nhận được đề nghị nghiệm thu” (khoản 3 Điều 22); văn bản không quy định hình thức đề nghị | Khuyến nghị: thống nhất trong hợp đồng hoặc quy chế phối hợp hình thức đề nghị (phiếu, văn bản, hệ thống điện tử) và ghi giờ nhận |
| “Nghiệm thu có điều kiện cho công việc, bổ sung giấy tờ sau” | Nghiệm thu có điều kiện chỉ có ở nghiệm thu hoàn thành (khoản 3 Điều 24) | Ở cấp công việc, biên bản kết luận chấp nhận hay không chấp nhận, kèm yêu cầu sửa chữa, hoàn thiện nếu có (điểm d khoản 4 Điều 22) |
| “Đã nghiệm thu thì giám sát chịu hết trách nhiệm chất lượng” | Nghiệm thu của chủ đầu tư không thay thế, không làm giảm trách nhiệm của nhà thầu (khoản 3 Điều 4) | Người ký chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá của mình (khoản 1 Điều 22); nhà thầu vẫn chịu trách nhiệm về phần việc đã thi công |
| “Không nghiệm thu thì nhà thầu phải dừng toàn bộ” | Biên bản nêu rõ có “đồng ý cho triển khai các công việc tiếp theo” hay không (điểm d khoản 4 Điều 22) | Hệ quả trực tiếp là công việc tiếp theo phụ thuộc công việc chưa nghiệm thu chưa được triển khai; tạm dừng thi công là công cụ khác, có căn cứ riêng |
Dòng cuối là chỗ hay bị trộn lẫn. Từ chối nghiệm thu chặn bước tiếp theo của một công việc; tạm dừng thi công là công cụ mạnh hơn, chỉ dùng khi có nguy cơ mất an toàn, thi công sai thiết kế, hoặc chất lượng, biện pháp thi công không bảo đảm. Hai công cụ được phân biệt trong bài khi nào tư vấn giám sát có căn cứ yêu cầu tạm dừng thi công.
Không đồng ý nghiệm thu thì ghi lý do thế nào
Văn bản thông báo không đồng ý nghiệm thu chỉ có giá trị khi nêu được lý do gắn với căn cứ, chứ không phải nhận xét chung. Bảng dưới đây so sánh cách ghi kém hiệu lực và cách ghi có căn cứ, theo đúng nhóm căn cứ tại khoản 2 Điều 22.
| Tình huống | Cách ghi kém hiệu lực | Cách ghi có căn cứ |
|---|---|---|
| Thiếu kết quả thí nghiệm | “Hồ sơ chưa đủ, đề nghị bổ sung” | “Chưa có kết quả thí nghiệm của lô vật liệu dùng cho công việc đề nghị nghiệm thu; chưa đủ căn cứ theo khoản 2 Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP. Đề nghị cung cấp kết quả kèm biên bản lấy mẫu.” |
| Sai lệch so với thiết kế | “Thi công chưa đạt yêu cầu” | “Kiểm tra hiện trường ngày…, tại vị trí…, thiếu thanh thép gia cường so với bản vẽ thi công được phê duyệt số… Chưa đủ điều kiện nghiệm thu; đề nghị khắc phục và thông báo để kiểm tra lại.” |
| Chưa nghiệm thu vật liệu đầu vào | “Vật tư chưa rõ nguồn gốc” | “Chưa có biên bản nghiệm thu vật liệu đầu vào đối với lô… theo khoản 6 Điều 14 Nghị định 207/2026/NĐ-CP. Đề nghị hoàn thiện trước khi nghiệm thu công việc.” |
| Đối tượng đã bị che khuất | “Đề nghị rút kinh nghiệm” | “Công việc đã bị bước thi công tiếp theo che lấp tại thời điểm kiểm tra, không còn kiểm chứng được chất lượng. Không đủ điều kiện xác nhận nghiệm thu; báo cáo chủ đầu tư xem xét biện pháp đánh giá bổ sung.” |
Nguyên tắc khi soạn: nêu sự việc quan sát được, gắn với căn cứ đối chiếu, rồi mới đến yêu cầu khắc phục; tránh quy kết cá nhân và tránh kết luận vượt phạm vi giám sát. Nội dung tương tự nên được ghi vào nhật ký thi công cùng ngày để hồ sơ nhất quán về thời điểm.
Đừng nhầm nghiệm thu công việc với nghiệm thu có điều kiện
Khi hồ sơ của một công việc chưa đủ, sẽ có người gợi ý: “cứ nghiệm thu có điều kiện, ghi tồn tại vào biên bản rồi bổ sung sau”. Cách hiểu này sai về căn cứ, vì nghiệm thu có điều kiện là chế định của Điều 24, không phải của Điều 22.
| Nội dung | Điều 22 – Nghiệm thu công việc | Điều 24 – Nghiệm thu hoàn thành |
|---|---|---|
| Đối tượng | Từng công việc xây dựng trong quá trình thi công | Hạng mục công trình, công trình xây dựng trước khi đưa vào sử dụng |
| Người tổ chức, người ký | Người trực tiếp giám sát và người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công | Chủ đầu tư tổ chức và trực tiếp tham gia; ký ở cấp đại diện theo pháp luật, giám sát trưởng, chỉ huy trưởng |
| Nghiệm thu có điều kiện | Không có chế định này | Khoản 3 Điều 24: chủ đầu tư quyết định khi thi công cơ bản đã hoàn thành theo thiết kế, còn tồn tại không ảnh hưởng khả năng chịu lực, thời hạn sử dụng, công năng |
Theo khoản 3 Điều 24 Nghị định 207/2026/NĐ-CP, nghiệm thu có điều kiện chỉ đặt ra khi việc thi công xây dựng cơ bản đã hoàn thành theo yêu cầu thiết kế, còn tồn tại nhưng không ảnh hưởng đến khả năng chịu lực, thời hạn sử dụng và công năng công trình; biên bản phải nêu rõ tồn tại cần khắc phục hoặc công việc còn phải tiếp tục, thời gian hoàn thành và yêu cầu giới hạn phạm vi sử dụng nếu có; sau khi khắc phục xong, chủ đầu tư vẫn phải tổ chức nghiệm thu hoàn thành. Đó là quyết định ở cấp chủ đầu tư đối với toàn công trình, không phải công cụ hợp thức hóa một biên bản nghiệm thu công việc thiếu căn cứ ở hiện trường.
Điểm b khoản 1 Điều 24 còn đặt điều kiện để được nghiệm thu hoàn thành: công tác nghiệm thu công việc xây dựng, bộ phận, giai đoạn phải được thực hiện đầy đủ theo Điều 22, Điều 23. Những khoảng trống ở cấp công việc vì thế không biến mất khi lên cấp công trình mà dồn lại thành điều kiện không đáp ứng ở khâu cuối. Giữa hai cấp là Điều 23 về nghiệm thu giai đoạn thi công hoặc bộ phận công trình, do chủ đầu tư và các nhà thầu tự thỏa thuận tổ chức, trên cơ sở xem xét kết quả các công việc đã nghiệm thu theo Điều 22.
Điều kiện chuyển bước thi công
Chuyển bước thi công không phải quyết định riêng của nhà thầu, mà là hệ quả của kết luận nghiệm thu. Theo điểm d khoản 4 Điều 22, biên bản phải nêu rõ việc đồng ý cho triển khai các công việc tiếp theo. Ba trạng thái nên được phân biệt rành mạch: chấp nhận nghiệm thu và đồng ý chuyển bước; chấp nhận nhưng kèm yêu cầu sửa chữa, hoàn thiện phần việc đã thực hiện; không chấp nhận nghiệm thu, chưa được chuyển bước. Viết mập mờ ở ô kết luận là nguồn gốc của phần lớn tranh cãi về sau.
Cần nhắc lại: kể cả khi biên bản đã ký và bước tiếp theo đã triển khai, khoản 3 Điều 4 Nghị định 207/2026/NĐ-CP vẫn giữ nguyên trách nhiệm của nhà thầu về chất lượng phần việc do mình thi công. Chữ ký của giám sát không phải tấm vé miễn trách cho nhà thầu; ngược lại, sự có mặt của nhà thầu không làm nhẹ trách nhiệm đánh giá của người giám sát.
Những lỗi lặp lại nhiều nhất
- Ký trước, bổ sung hồ sơ sau. Biên bản ghi ngày sớm hơn ngày có kết quả thí nghiệm — mâu thuẫn lộ ra ngay khi đối chiếu.
- Từ chối bằng miệng. Không đồng ý nghiệm thu nhưng không ra văn bản nêu lý do như khoản 3 Điều 22 yêu cầu; khi tranh chấp thì không chứng minh được mình đã cảnh báo.
- Bỏ trống mốc thời gian nhận đề nghị nghiệm thu. Không có cách xác định đã trả lời trong hay ngoài 24 giờ.
- Gộp biên bản tùy tiện. Khoản 4 Điều 22 cho phép lập chung cho nhiều công việc của một hạng mục theo trình tự thi công, không phải gộp mọi thứ rời rạc cho gọn.
- Thiếu chữ ký nhà thầu phụ khi có nhà thầu chính, trái với khoản 5 Điều 22.
- Dùng mẫu biểu cũ còn dẫn Nghị định 06/2021/NĐ-CP, trong khi văn bản này đã hết hiệu lực từ 01/7/2026 theo Điều 52 Nghị định 207/2026/NĐ-CP.
- Nhầm cấp nghiệm thu. Vận dụng nghiệm thu có điều kiện của khoản 3 Điều 24 cho một công việc xây dựng ở hiện trường.
Kết luận
Nghiệm thu công việc xây dựng là thao tác nhỏ nhất nhưng dày đặc nhất trong hệ thống quản lý chất lượng, và là nơi trách nhiệm được ghim vào tên người cụ thể. Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP không đòi hỏi điều gì bất khả thi: kiểm tra tại công trường, đối chiếu với thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, quy chuẩn, tiêu chuẩn, kết quả thí nghiệm và quan trắc, rồi kết luận trong vòng 24 giờ; nếu không đồng ý thì nói rõ lý do bằng văn bản. Mười điểm kiểm tra trong bài chỉ là cách sắp xếp yêu cầu đó thành trình tự làm việc để không bỏ sót khi bị thúc ép.
Trở lại tình huống mở đầu — thiếu kết quả thí nghiệm, nhật ký bỏ trống, bản vẽ sai phiên bản — ứng xử đúng không phải là ký, cũng không phải im lặng để đó, mà là gửi văn bản không đồng ý nghiệm thu trong 24 giờ, nêu ba lý do gắn với căn cứ, ghi vào nhật ký; nếu kiểm tra cho thấy cốt thép thiếu phần gia cường theo bản vẽ điều chỉnh mà nhà thầu vẫn chuẩn bị đổ bê tông thì đó là thi công sai thiết kế, giám sát có căn cứ tạm dừng thi công và thông báo kịp thời cho chủ đầu tư (điểm d khoản 1 Điều 63 Luật Xây dựng; điểm h khoản 1 Điều 20 Nghị định 207). Cách làm này mất thêm một ngày, nhưng giữ được hồ sơ đúng và giữ được người ký. Trình tự, thành phần hồ sơ và trách nhiệm cụ thể còn phụ thuộc thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật và hợp đồng của từng dự án; người đọc cần đối chiếu văn bản hiện hành và hồ sơ thực tế của công trình tại thời điểm thực hiện. Nghiệm thu là điểm l trong mười hai nội dung giám sát tại khoản 1 Điều 20, được hệ thống trong bài tư vấn giám sát thi công phải kiểm tra những gì theo Nghị định 207; cách xếp việc nghiệm thu vào nhịp làm việc trong ngày có trong bài checklist công việc hằng ngày của giám sát trưởng. Vị trí của nghiệm thu trong toàn bộ nghiệp vụ giám sát có trong bài tư vấn giám sát xây dựng năm 2026.
Học nghiệp vụ nghiệm thu và kiểm soát chất lượng thi công
Người làm giám sát muốn thao tác thuần thục danh mục trên — từ đọc bản vẽ, đối chiếu tiêu chuẩn, kiểm soát vật liệu đầu vào đến lập biên bản và soạn văn bản từ chối nghiệm thu — có thể tham gia chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ tư vấn giám sát tại Viện, bám theo quy định của Nghị định 207/2026/NĐ-CP và tình huống công trường thực tế.
Viện chỉ tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức và cấp chứng nhận hoàn thành khóa học. Chứng nhận hoàn thành khóa học không đồng nghĩa và không thay thế cho chứng chỉ hành nghề hoặc chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng do cơ quan có thẩm quyền cấp. Tư vấn chương trình: hotline 0904 889 859.
Văn bản sử dụng trong bài
- Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 — khoản 1 Điều 56 (giám sát thi công xây dựng công trình).
- Nghị định 207/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, hiệu lực từ 01/7/2026 — khoản 3 Điều 4; khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 14; khoản 13 Điều 15; Điều 20 (điểm d, e, h, i, l khoản 1; khoản 3); Điều 22 (khoản 1 đến khoản 8); Điều 23; Điều 24 (khoản 1, khoản 3); Điều 52; Phụ lục II, Phụ lục IV.
- Thông tư 32/2026/TT-BXD ngày 22/6/2026, hiệu lực từ 01/7/2026 — trong phạm vi kế hoạch tổ chức thí nghiệm, quan trắc công trình trong quá trình thi công và kiểm định xây dựng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
- Nghị định 06/2021/NĐ-CP — dẫn chiếu chỉ để đối chiếu chuyển tiếp; đã hết hiệu lực từ 01/7/2026 theo Điều 52 Nghị định 207/2026/NĐ-CP.
Nội dung được biên soạn bởi chuyên gia Viện Nghiên Cứu Đào Tạo Bồi Dưỡng Cán Bộ. Nội dung pháp lý được cập nhật theo các văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm biên soạn. Bài viết có mục đích cung cấp thông tin tham khảo, không thay thế văn bản pháp luật hoặc ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

